<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
     xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
     xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
     xmlns:admin="http://webns.net/mvcb/"
     xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#"
     xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
     xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/">
<channel>
<title>Tuvidonga.com &#45; : Tâm Linh</title>
<link>https://tuvidonga.com/rss/category/tam-linh</link>
<description>Tuvidonga.com &#45; : Tâm Linh</description>
<dc:language>vn</dc:language>
<dc:rights>Copyright 2023 tuvidonga.com &#45; All Rights Reserved.</dc:rights>

<item>
<title>Tuyên Quang: Nơi Hội Tụ 29 Đền Thờ – Kho Tàng Văn Hóa và Lịch Sử Sống Động</title>
<link>https://tuvidonga.com/tuyen-quang-29-den-tho</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tuyen-quang-29-den-tho</guid>
<description><![CDATA[ Bài viết này sẽ đi sâu vào khám phá 29 ngôi đền thờ nổi bật tại Tuyên Quang, cung cấp thông tin chi tiết về địa chỉ, thành tích, lịch sử hình thành, di sản văn hóa được công nhận, văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh và những giá trị lịch sử to lớn khác. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x580_683bd6fe12ba8.jpg" length="150600" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Sun, 01 Jun 2025 11:57:07 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>đền thờ linh thiêng tại tuyên quang</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="1:1-1:636">Tuyên Quang, vùng đất cổ kính nằm giữa lòng Việt Bắc, không chỉ hấp dẫn bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp mà còn là điểm đến tâm linh quan trọng với hệ thống đền thờ đa dạng và phong phú. Từ những ngôi đền thờ Mẫu cổ kính mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian đến các đền thờ anh hùng dân tộc ghi dấu son lịch sử, mỗi công trình đều là một trang sử sống động, một di sản quý giá của dân tộc. Bài viết này sẽ đi sâu vào khám phá 29 ngôi đền thờ nổi bật tại Tuyên Quang, cung cấp thông tin chi tiết về địa chỉ, thành tích, lịch sử hình thành, di sản văn hóa được công nhận, văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh và những giá trị lịch sử to lớn khác.</p>
<table width="100% bodder=" 1px"="">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: center;"><strong>Số TT</strong></td>
<td style="text-align: center;"><strong>Tên Đền</strong></td>
<td style="text-align: center;"><strong>Địa Chỉ</strong></td>
</tr>
<tr>
<td>1</td>
<td>Đền Hạ (Đền Hiệp Thuận, Đền Tam Kỳ)</td>
<td>
<div>
<div>Tổ 15, phường Tân Quang, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>2</td>
<td>Đền Thượng (Đền Mẫu Dùm, Đền Sâm Sơn, Đền Núi Dùm)</td>
<td>
<div>
<div>Xã Tràng Đà, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>3</td>
<td>Đền Ỷ La (Đền Mẫu Ỷ La)</td>
<td>
<div>
<div>Phường Ỷ La, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>4</td>
<td>Đền Pác Tạ</td>
<td>
<div>
<div>Thị trấn Na Hang, huyện Na Hang, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>5</td>
<td>Đền Đầm Hồng</td>
<td>
<div>
<div>Xã Ngọc Hội, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>6</td>
<td>Đền Cấm (Cấm Linh Từ)</td>
<td>
<div>
<div>Thôn Hưng Kiều 4, xã An Tường, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>7</td>
<td>Đền Trình Hai Cô (Đền Đôi Cô, Đền Đôi Cô Mỏ Than)</td>
<td>
<div>
<div>Phường Nông Tiến, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>8</td>
<td>Đền Cô Bé Mỏ Than</td>
<td>
<div>
<div>Phường Minh Xuân, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>9</td>
<td>Đền Mẫu Tam Cờ</td>
<td>
<div>
<div>Trung tâm TP. Tuyên Quang (gần chợ Tam Cờ)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>10</td>
<td>Đền Mẫu Cổ Lộ</td>
<td>
<div>
<div>Thôn Cổ Lộ, xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>11</td>
<td>Đền Thượng (Đền Long Động)</td>
<td>
<div>
<div>Xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>12</td>
<td>Đền Đầm Đau</td>
<td>
<div>
<div>Huyện Hàm Yên, Tuyên Quang (cần xác minh thêm xã/thôn cụ thể)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>13</td>
<td>Đền Thờ Bác Hồ</td>
<td>
<div>
<div>Quảng trường Nguyễn Tất Thành, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>14</td>
<td>Đền Tân Trào</td>
<td>
<div>
<div>Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>15</td>
<td>Đền Cây Đa Tân Trào</td>
<td>
<div>
<div>Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>16</td>
<td>Đền Kiếp Bạc</td>
<td>
<div>
<div>Tổ 4, phường Tân Quang, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>17</td>
<td>Đền Cảnh Sanh (Đền Cảnh Xanh, Đền Cây Xanh)</td>
<td>
<div>
<div>Phường Minh Xuân, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>18</td>
<td>Đền Ghềnh Quýt</td>
<td>
<div>
<div>Thông tin cụ thể về địa chỉ thôn/xã cần xác minh thêm, đền thường nằm ở khu vực ven sông/suối.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>19</td>
<td>Đền Đuổm</td>
<td>
<div>
<div>Xã Đuổm, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>20</td>
<td>Đền Quan Đế Miếu (Chùa Quan Đế, Đền Quan Thánh Đế Quân)</td>
<td>
<div>
<div>Phường Phan Thiết, TP. Tuyên Quang (gần Bến xe Tuyên Quang cũ)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>21</td>
<td>Đền An Vinh</td>
<td>
<div>
<div>Phường Hưng Thành, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>22</td>
<td>Đền Cậu Thiên</td>
<td>
<div>
<div>Thông tin cụ thể về địa chỉ tại Tuyên Quang cần xác minh thêm.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>23</td>
<td>Đền Bắc Mục</td>
<td>
<div>
<div>Thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>24</td>
<td>Đền Đồng Xuân</td>
<td>
<div>
<div>Khu vực ven sông Lô, Tuyên Quang (tọa lạc trên một khu đất cao ngay bên cạnh dòng sông Lô).</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>25</td>
<td>Đền Hang Vực</td>
<td>
<div>
<div>Huyện Sơn Dương, Tuyên Quang (thông tin cụ thể về xã/thôn cần xác minh thêm).</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>26</td>
<td>Lâm Sơn linh từ</td>
<td>
<div>
<div>Tổ 1, phường Nông Tiến, TP. Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>27</td>
<td>Đền Cô Minh Lương</td>
<td>
<div>
<div>Xã Lăng Quán, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>28</td>
<td>Đền Bách Thần</td>
<td>
<div>
<div>Xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>29</td>
<td>Đền Trung (Đền Thượng) Cảnh Đền</td>
<td>
<div>
<div>Xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bd6fe4c8e7.jpg" alt="30 đền thờ tại tuyên quang vô cùng linh thiêng" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="870" height="533"></p>
<p data-sourcepos="12:1-12:628">Tuyên Quang, mảnh đất nằm giữa lòng Việt Bắc, không chỉ hấp dẫn bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp mà còn là điểm đến tâm linh quan trọng với hệ thống đền thờ đa dạng và phong phú. Từ những ngôi đền thờ Mẫu cổ kính mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian đến các đền thờ anh hùng dân tộc ghi dấu son lịch sử, mỗi công trình đều là một trang sử sống động, một di sản quý giá của dân tộc. Bài viết này sẽ đi sâu vào khám phá 29 ngôi đền thờ nổi bật tại Tuyên Quang, cung cấp thông tin chi tiết về địa chỉ, thành tích, lịch sử hình thành, di sản văn hóa được công nhận, văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh và những giá trị lịch sử to lớn khác.</p>
<h2 data-sourcepos="16:1-16:76">I. Quần Thể Tam Kỳ - Tam Đền: Nơi Khởi Nguyên Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Xứ Tuyên</h2>
<p data-sourcepos="18:1-18:431">Quần thể Tam Kỳ, bao gồm <strong>Đền Hạ, Đền Thượng</strong> và <strong>Đền Ỷ La</strong>, là bộ ba đền thờ linh thiêng bậc nhất, tạo nên trục tâm linh quan trọng hàng đầu tại Tuyên Quang. Đây là những trung tâm thờ Mẫu cổ kính, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất, đồng thời là nơi khởi nguyên và duy trì những nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ độc đáo, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.</p>
<h3 data-sourcepos="20:1-20:42">1. Đền Hạ (Đền Hiệp Thuận, Đền Tam Kỳ)</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bd7cbec960.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="22:1-28:0">
<li data-sourcepos="22:1-22:56"><strong>Địa chỉ</strong>: Tổ 15, phường Tân Quang, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="23:1-23:243"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Khởi dựng từ năm <strong>1738</strong> dưới thời Lê - Trịnh, nằm cạnh bờ sông Lô, Đền Hạ mang ý nghĩa trấn yểm và bảo vệ vùng đất. Ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính, uy nghi.</li>
<li data-sourcepos="24:1-24:227"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền Hạ được coi là <strong>nơi phát tích của Mẫu Thoải</strong> (Mẫu Thượng Thiên) trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt. Nơi đây thờ Đức Thánh Mẫu Thượng Thiên cùng với các vị thần linh thuộc Thoải Phủ.</li>
<li data-sourcepos="25:1-25:398"><strong>Di sản văn hóa được công nhận</strong>: Đền Hạ được công nhận là <strong>Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia</strong>. Đặc biệt, <strong>Lễ hội Đền Hạ</strong> truyền thống, diễn ra từ ngày 11 đến 16 tháng Giêng âm lịch hằng năm, với các nghi thức rước Mẫu, lễ vật, chầu văn, hát đối... đã được công nhận là <strong>Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia</strong>. Lễ hội này là điểm nhấn văn hóa độc đáo, thu hút hàng vạn du khách và tín đồ.</li>
<li data-sourcepos="26:1-26:365"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Đền Hạ là một trong những trung tâm lớn và linh thiêng nhất của nghi lễ <strong>Hầu đồng</strong> (Hầu Thánh) trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Các giá đồng thường được thực hiện để thỉnh Mẫu Thoải và các vị quan, chầu, cậu trong hệ thống Thủy Phủ, cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mang lại sự bình an và thịnh vượng cho bản thân và gia đình.</li>
<li data-sourcepos="27:1-28:0"><strong>Giá trị lịch sử to lớn</strong>: Đền không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là chứng nhân lịch sử, gắn liền với quá trình khai hoang lập ấp, phát triển của vùng đất Tuyên Quang. Kiến trúc và các hiện vật trong đền phản ánh rõ nét nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc thời Lê - Nguyễn, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="29:1-29:57">2. Đền Thượng (Đền Mẫu Dùm, Đền Sâm Sơn, Đền Núi Dùm)</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bd77455883.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="31:1-37:0">
<li data-sourcepos="31:1-31:44"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Tràng Đà, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="32:1-32:240"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Đền được dựng vào năm <strong>1801</strong>, nằm trên một ngọn đồi cao, nhìn ra sông Lô và toàn cảnh thành phố Tuyên Quang. Vị trí "tựa sơn hướng thủy" mang ý nghĩa phong thủy tốt lành, tạo nên không gian thanh tịnh và hùng vĩ.</li>
<li data-sourcepos="33:1-33:215"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ đa dạng các vị thần linh, bao gồm <strong>Mẫu Thần, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải, Ngọc Hoàng, Long Vương, Quan Hoàng</strong>, thể hiện sự dung hợp và đa dạng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.</li>
<li data-sourcepos="34:1-34:255"><strong>Di sản văn hóa được công nhận</strong>: Đền được công nhận là <strong>Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia</strong>. Đền Thượng là một phần không thể thiếu trong chuỗi hành hương Tam Kỳ, thường là điểm đến sau khi đã bái Đền Hạ, tạo nên một hành trình tâm linh liền mạch.</li>
<li data-sourcepos="35:1-35:308"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Tương tự Đền Hạ, Đền Thượng cũng là nơi thường xuyên diễn ra các buổi Hầu đồng. Các giá đồng tại đây tập trung vào việc thỉnh các vị thần linh liên quan đến Trời (Ngọc Hoàng, Quan Hoàng), Núi (Mẫu Thượng Ngàn) và Nước (Mẫu Thoải), cầu mong sự che chở, ban phúc từ các cõi.</li>
<li data-sourcepos="36:1-37:0"><strong>Giá trị lịch sử to lớn</strong>: Đền Thượng không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là biểu tượng của sự che chở, bảo vệ cho vùng đất Tuyên Quang. Từ trên đền có thể bao quát một vùng rộng lớn, từng là vị trí chiến lược quan trọng trong các cuộc kháng chiến của dân tộc.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="38:1-38:30">3. Đền Ỷ La (Đền Mẫu Ỷ La)</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bd91bd0ab6.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="40:1-46:0">
<li data-sourcepos="40:1-40:44"><strong>Địa chỉ</strong>: Phường Ỷ La, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="41:1-41:250"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Khởi dựng vào năm <strong>1743</strong>, Đền Ỷ La có lịch sử hình thành gần như song song với Đền Hạ. Ngôi đền được xây dựng để thờ <strong>công chúa Phương Dung</strong>, con gái của vua Hùng, người đã có công giúp dân trị thủy và khai khẩn đất đai.</li>
<li data-sourcepos="42:1-42:165"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Tam tòa Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải</strong>, thể hiện sự hội tụ đầy đủ các Mẫu trong tín ngưỡng Tam Phủ.</li>
<li data-sourcepos="43:1-43:248"><strong>Di sản văn hóa được công nhận</strong>: Đền được công nhận là <strong>Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia</strong>. Đền Ỷ La là điểm kết thúc của chuỗi hành hương Tam Kỳ, mang ý nghĩa "tam tài hội tụ", nơi con người tìm thấy sự bình an và trọn vẹn trong tâm linh.</li>
<li data-sourcepos="44:1-44:221"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Đền là nơi diễn ra các nghi lễ Hầu đồng quan trọng, với sự thỉnh các vị Mẫu từ cả ba Phủ (Thiên Phủ, Nhạc Phủ, Thoải Phủ), tạo nên một không gian tâm linh đầy màu sắc và sự trang trọng.</li>
<li data-sourcepos="45:1-46:0"><strong>Giá trị lịch sử to lớn</strong>: Đền Ỷ La không chỉ là nơi thờ Mẫu mà còn gắn liền với truyền thuyết về công chúa Phương Dung, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân gian của Tuyên Quang. Các hiện vật, kiến trúc trong đền cũng mang giá trị nghiên cứu lịch sử, nghệ thuật, phản ánh đời sống tinh thần của cư dân qua các thời kỳ.</li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="49:1-49:56">II. Các Đền Thờ Quan Trọng Khác Ở Trung Tâm Thành Phố</h2>
<p data-sourcepos="51:1-51:188">Khu vực trung tâm TP. Tuyên Quang không chỉ có quần thể Tam Kỳ mà còn có nhiều ngôi đền khác đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, thể hiện sự đa dạng về tín ngưỡng và thờ cúng.</p>
<h3 data-sourcepos="53:1-53:21">4. Đền Mẫu Tam Cờ</h3>
<ul data-sourcepos="55:1-59:0">
<li data-sourcepos="55:1-55:66"><strong>Địa chỉ</strong>: Trung tâm TP. Tuyên Quang (gần khu vực chợ Tam Cờ).</li>
<li data-sourcepos="56:1-56:147"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Là một trong những ngôi đền cổ kính tại trung tâm thành phố, gắn liền với sự phát triển của khu vực chợ búa, giao thương.</li>
<li data-sourcepos="57:1-57:264"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Thánh Mẫu</strong> (thường là các vị Mẫu trong tín ngưỡng Tam Phủ hoặc Mẫu bản địa được người dân địa phương tôn thờ). Ngôi đền là điểm đến quen thuộc của cư dân đô thị để cầu bình an, tài lộc, đặc biệt là những người làm ăn buôn bán.</li>
<li data-sourcepos="58:1-59:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Góp phần duy trì <strong>truyền thống thờ Mẫu</strong> – một trong những tín ngưỡng quan trọng nhất của người Việt, thể hiện sự tôn trọng đối với quyền năng của người phụ nữ và sự gắn bó với thiên nhiên. Đền là nơi diễn ra nhiều hoạt động tín ngưỡng sôi nổi trong các dịp lễ, tết.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="60:1-60:19">5. Đền Kiếp Bạc</h3>
<ul data-sourcepos="62:1-66:0">
<li data-sourcepos="62:1-62:55"><strong>Địa chỉ</strong>: Tổ 4, phường Tân Quang, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="63:1-63:253"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, Đền Kiếp Bạc tại Tuyên Quang là một chi nhánh hoặc sự kế thừa của tín ngưỡng thờ Trần Hưng Đạo từ Đền Kiếp Bạc (Hải Dương). Ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ và tôn vinh vị anh hùng dân tộc.</li>
<li data-sourcepos="64:1-64:138"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn</strong>, vị anh hùng dân tộc vĩ đại có công ba lần đánh tan quân Nguyên Mông.</li>
<li data-sourcepos="65:1-66:0"><strong>Giá trị văn hóa - lịch sử</strong>: Ngôi đền là biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Hàng năm, nhiều người dân và du khách đến đây để bày tỏ lòng thành kính và cầu mong sự bình an, may mắn.</li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="69:1-69:61">III. Các Đền Thờ Mẫu và Tín Ngưỡng Dân Gian Tiêu Biểu Khác</h2>
<h3 data-sourcepos="71:1-71:17">6. Đền Pác Tạ</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bd958d484e.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="73:1-78:0">
<li data-sourcepos="73:1-73:60"><strong>Địa chỉ</strong>: Thị trấn Na Hang, huyện Na Hang, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="74:1-74:302"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Đền gắn liền với truyền thuyết về <strong>công chúa con vua trời giáng trần</strong> (còn gọi là Mẫu Pác Tạ), người đã hóa thân vào dòng sông để bảo vệ vùng đất. Khi thủy điện Tuyên Quang được xây dựng, đền đã được di dời và xây dựng lại trên một ngọn đồi cao, vẫn giữ được sự linh thiêng.</li>
<li data-sourcepos="75:1-75:144"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Mẫu Pác Tạ</strong>, vị thần được người dân địa phương, đặc biệt là cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, vô cùng tôn kính.</li>
<li data-sourcepos="76:1-76:201"><strong>Di sản văn hóa</strong>: Đền được công nhận là <strong>Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh</strong>. Là một phần quan trọng trong tour du lịch hồ thủy điện Na Hang, thu hút khách du lịch tâm linh và khám phá thiên nhiên.</li>
<li data-sourcepos="77:1-78:0"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Đền Pác Tạ là trung tâm thực hành Hầu đồng ở Na Hang, với các giá đồng đặc trưng liên quan đến Mẫu Pác Tạ và các vị thần núi, thần sông của vùng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="79:1-79:19">7. Đền Đầm Hồng</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bd9ac353a4.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="81:1-85:0">
<li data-sourcepos="81:1-81:57"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Ngọc Hội, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="82:1-82:143"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Đền có lịch sử lâu đời, gắn liền với truyền thuyết về <strong>Mẫu Đầm Hồng</strong>, một vị nữ thần cai quản vùng hồ và sông nước.</li>
<li data-sourcepos="83:1-83:151"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Mẫu Đầm Hồng</strong>, một trong những đền thờ Mẫu nổi tiếng và có lịch sử lâu đời, thu hút đông đảo du khách hành hương.</li>
<li data-sourcepos="84:1-85:0"><strong>Giá trị văn hóa</strong>: Gắn liền với các phong tục, tập quán địa phương, phản ánh đời sống văn hóa của cộng đồng, đặc biệt là trong các lễ hội cầu mưa, cầu mùa.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="86:1-86:28">8. Đền Cấm (Cấm Linh Từ)</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bda6243e0a.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="88:1-92:0">
<li data-sourcepos="88:1-88:62"><strong>Địa chỉ</strong>: Thôn Hưng Kiều 4, xã An Tường, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="89:1-89:148"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Là một ngôi đền cổ kính, được người dân địa phương vô cùng tôn kính, gắn liền với những câu chuyện truyền miệng từ xa xưa.</li>
<li data-sourcepos="90:1-90:312"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền Cấm thờ <strong>Cô Chầu Mười (tức Cô Chầu Mười Móc Giằng/Cô Bé Móc Giằng)</strong>, một vị nữ tướng có công giúp vua Lê Lợi chống giặc Minh. Ngoài ra, đền còn thờ <strong>Thánh Mẫu Thượng Ngàn</strong> và <strong>Thần Xà</strong>. Sự kết hợp giữa thờ anh hùng dân tộc và các vị thần tự nhiên tạo nên nét độc đáo của đền.</li>
<li data-sourcepos="91:1-92:0"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Đền là điểm thực hành Hầu đồng, đặc biệt là các giá liên quan đến Cô Chầu Mười và các vị quan, chầu của Nhạc Phủ.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="93:1-93:56">9. Đền Trình Hai Cô (Đền Đôi Cô, Đền Đôi Cô Mỏ Than)</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bdabe12534.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="95:1-99:0">
<li data-sourcepos="95:1-95:49"><strong>Địa chỉ</strong>: Phường Nông Tiến, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="96:1-96:99"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Ngôi đền có lịch sử lâu đời, gắn liền với tín ngưỡng thờ các vị thánh cô.</li>
<li data-sourcepos="97:1-97:267"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Cô Đôi Thượng Ngàn</strong> và <strong>Cô Bơ Thoải Cung</strong>. "Trình" có nghĩa là trình diện, ngôi đền là nơi đầu tiên mà các con nhang đệ tử đến trình diện trước khi đi lễ các đền khác trong vùng. Cái tên "Mỏ Than" gắn với khu vực địa lý gần đó.</li>
<li data-sourcepos="98:1-99:0"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Các giá đồng thường tập trung vào thỉnh Cô Đôi Thượng Ngàn và Cô Bơ Thoải Cung, cầu mong sự phù hộ, che chở của hai vị Thánh Cô.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="100:1-100:25">10. Đền Cô Bé Mỏ Than</h3>
<ul data-sourcepos="102:1-106:0">
<li data-sourcepos="102:1-102:49"><strong>Địa chỉ</strong>: Phường Minh Xuân, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="103:1-103:123"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Gắn liền với khu vực mỏ than cũ, ngôi đền này là nơi thờ tự linh thiêng của người dân địa phương.</li>
<li data-sourcepos="104:1-104:225"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Cô bé rừng xanh (Cô Bé Mỏ Than)</strong> và <strong>Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn</strong>. Sự kết hợp thờ một vị Thánh Cô bản địa và một vị anh hùng dân tộc là nét đặc trưng của nhiều đền thờ ở Việt Nam.</li>
<li data-sourcepos="105:1-106:0"><strong>Văn hóa tín ngưỡng Hầu Thánh</strong>: Là một địa điểm quan trọng để thực hiện nghi lễ Hầu đồng, đặc biệt là các giá liên quan đến Cô Bé rừng xanh.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="107:1-107:21">11. Đền Mẫu Cổ Lộ</h3>
<ul data-sourcepos="109:1-112:0">
<li data-sourcepos="109:1-109:68"><strong>Địa chỉ</strong>: Thôn Cổ Lộ, xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="110:1-110:110"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Một ngôi đền cổ kính, linh thiêng thờ <strong>Thánh Mẫu Thượng Ngàn</strong> và các vị thần núi.</li>
<li data-sourcepos="111:1-112:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Minh chứng cho sự tồn tại và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở những nơi có địa hình núi rừng. Ngôi đền đóng vai trò là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, nơi người dân thể hiện lòng biết ơn và sự tôn kính đối với Mẫu, cầu mong mùa màng tốt tươi.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="113:1-113:34">12. Đền Thượng (Đền Long Động)</h3>
<ul data-sourcepos="115:1-118:0">
<li data-sourcepos="115:1-115:55"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="116:1-116:161"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Thờ <strong>Mẫu Thượng Ngàn</strong> hoặc các vị <strong>thần núi/thần rồng</strong> (Long Động có thể gợi ý về hang động có hình rồng hoặc liên quan đến rồng).</li>
<li data-sourcepos="117:1-118:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Vị trí đền trên cao thường mang ý nghĩa phong thủy tốt, tượng trưng cho sức mạnh và sự bảo vệ. Đền là nơi người dân đến cầu bình an, sức khỏe, và sự thịnh vượng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="119:1-119:19">13. Đền Đầm Đau</h3>
<ul data-sourcepos="121:1-124:0">
<li data-sourcepos="121:1-121:90"><strong>Địa chỉ</strong>: Huyện Hàm Yên, Tuyên Quang (thông tin cụ thể về xã/thôn cần xác minh thêm).</li>
<li data-sourcepos="122:1-122:168"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Một ngôi đền thờ <strong>Thánh Mẫu</strong>, có thể là <strong>Mẫu Thoải</strong> hoặc một vị Mẫu bản địa gắn liền với truyền thuyết về một đầm nước nào đó trong vùng.</li>
<li data-sourcepos="123:1-124:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Nơi người dân gửi gắm niềm tin vào sự che chở của Mẫu, cầu mong mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ. Việc thờ Mẫu gắn liền với <strong>nông nghiệp lúa nước</strong> và sự mong muốn có được mưa thuận gió hòa.</li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="127:1-127:58">IV. Các Đền Thờ Anh Hùng Dân Tộc và Di Sản Lịch Sử Khác</h2>
<h3 data-sourcepos="129:1-129:22">14. Đền Thờ Bác Hồ</h3>
<ul data-sourcepos="131:1-134:0">
<li data-sourcepos="131:1-131:62"><strong>Địa chỉ</strong>: Quảng trường Nguyễn Tất Thành, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="132:1-132:144"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Được xây dựng để tưởng nhớ và tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một công trình mang ý nghĩa chính trị - lịch sử sâu sắc.</li>
<li data-sourcepos="133:1-134:0"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Không phải đền thờ tín ngưỡng truyền thống, nhưng là một <strong>di tích lịch sử quốc gia đặc biệt</strong>, biểu tượng của lòng thành kính và tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi thể hiện sâu sắc văn hóa "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="135:1-135:20">15. Đền Tân Trào</h3>
<ul data-sourcepos="137:1-140:0">
<li data-sourcepos="137:1-137:97"><strong>Địa chỉ</strong>: Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="138:1-138:151"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Nằm trong quần thể di tích lịch sử cách mạng, nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.</li>
<li data-sourcepos="139:1-140:0"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và các sự kiện lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam. Dù không phải đền thờ theo nghĩa truyền thống, đây là di tích tâm linh của dân tộc, nơi tri ân các anh hùng đã hy sinh vì độc lập, tự do.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="141:1-141:27">16. Đền Cây Đa Tân Trào</h3>
<ul data-sourcepos="143:1-146:0">
<li data-sourcepos="143:1-143:97"><strong>Địa chỉ</strong>: Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="144:1-144:159"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Gắn liền với sự kiện lịch sử Bác Hồ và các lãnh đạo cách mạng thường làm việc và đưa ra những quyết sách quan trọng dưới bóng cây đa.</li>
<li data-sourcepos="145:1-146:0"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Cũng thuộc Khu di tích Tân Trào, nơi tri ân và tưởng nhớ những đóng góp to lớn của các vị lãnh đạo cách mạng và ý nghĩa của địa danh lịch sử này.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="147:1-147:51">17. Đền Cảnh Sanh (Đền Cảnh Xanh, Đền Cây Xanh)</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bdcf06c658.jpg" alt="đền cảnh xanh tuyên quang" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="870" height="581"></p>
<ul data-sourcepos="149:1-152:0">
<li data-sourcepos="149:1-149:49"><strong>Địa chỉ</strong>: Phường Minh Xuân, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="150:1-150:128"><strong>Lịch sử hình thành</strong>: Là một ngôi đền cổ kính trong lòng thành phố, được bao bọc bởi cây xanh, mang lại không gian yên bình.</li>
<li data-sourcepos="151:1-152:0"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn</strong> và <strong>Đức Thánh Mẫu Thượng Ngàn</strong>. Ngôi đền không chỉ là nơi thờ tự mà còn là một không gian xanh mát, yên bình giữa lòng thành phố.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="153:1-153:22">18. Đền Ghềnh Quýt</h3>
<ul data-sourcepos="155:1-157:0">
<li data-sourcepos="155:1-155:114"><strong>Địa chỉ</strong>: Thông tin cụ thể về địa chỉ thôn/xã cần được xác minh thêm, đền thường nằm ở khu vực ven sông/suối.</li>
<li data-sourcepos="156:1-157:0"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Thờ <strong>Đức Thánh Trần Hưng Đạo</strong> và các vị thần linh, minh chứng cho sự ảnh hưởng rộng lớn của tín ngưỡng thờ Trần Hưng Đạo khắp các vùng miền. Gắn liền với các câu chuyện lịch sử tại địa phương.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="158:1-158:16">19. Đền Đuổm</h3>
<ul data-sourcepos="160:1-163:0">
<li data-sourcepos="160:1-160:210"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Đuổm, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. (Cần lưu ý: Đền Đuổm nổi tiếng nhất nằm ở Thái Nguyên. Tại Tuyên Quang, nếu có, có thể là một điểm thờ tự hoặc đền địa phương liên quan đến tín ngưỡng này.)</li>
<li data-sourcepos="161:1-161:195"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Theo truyền thuyết, Đền Đuổm thờ <strong>Dương Tự Minh</strong>, vị thủ lĩnh dân tộc Tày có công lớn trong việc bảo vệ biên cương phía Bắc dưới thời nhà Lý và được phong làm Phò Mã.</li>
<li data-sourcepos="162:1-163:0"><strong>Giá trị văn hóa</strong>: Nếu có một đền thờ Dương Tự Minh tại Sơn Dương, Tuyên Quang, thì đây sẽ là một di tích quan trọng minh chứng cho vai trò của các dân tộc thiểu số trong lịch sử dựng nước và giữ nước, thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa các vùng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="164:1-164:63">20. Đền Quan Đế Miếu (Chùa Quan Đế, Đền Quan Thánh Đế Quân)</h3>
<ul data-sourcepos="166:1-169:0">
<li data-sourcepos="166:1-166:78"><strong>Địa chỉ</strong>: Phường Phan Thiết, TP. Tuyên Quang (gần Bến xe Tuyên Quang cũ).</li>
<li data-sourcepos="167:1-167:130"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền cổ thờ <strong>Quan Công</strong> (Quan Vũ), một vị tướng trung nghĩa của Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam.</li>
<li data-sourcepos="168:1-169:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Phản ánh sự <strong>giao thoa văn hóa</strong> giữa Việt Nam và Trung Quốc, nơi người Việt tiếp nhận và thờ cúng một vị thần ngoại lai bởi những phẩm chất đạo đức cao đẹp (trung nghĩa, dũng cảm).</li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="172:1-172:54">V. Các Đền Thờ Khác và Giá Trị Văn Hóa - Tín Ngưỡng</h2>
<h3 data-sourcepos="174:1-174:19">21. Đền An Vinh</h3>
<ul data-sourcepos="176:1-179:0">
<li data-sourcepos="176:1-176:50"><strong>Địa chỉ</strong>: Phường Hưng Thành, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="177:1-177:176"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Thường thờ <strong>Thành Hoàng làng</strong> (vị thần bảo hộ cho làng xã), hoặc các vị <strong>tiền nhân có công khai khẩn đất đai, chống giặc ngoại xâm</strong> ở địa phương.</li>
<li data-sourcepos="178:1-179:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Ngôi đền củng cố <strong>tinh thần đoàn kết cộng đồng</strong> và là nơi lưu giữ các phong tục, lễ nghi truyền thống, nơi người dân gửi gắm ước nguyện về cuộc sống bình an, mùa màng bội thu.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="180:1-180:21">22. Đền Cậu Thiên</h3>
<ul data-sourcepos="182:1-185:0">
<li data-sourcepos="182:1-182:217"><strong>Địa chỉ</strong>: Thông tin cụ thể về địa chỉ tại Tuyên Quang cần được xác minh thêm, đền thường nằm ở các khu dân cư hoặc gần các đền thờ Mẫu lớn. <em>(Lưu ý: Một số tài liệu nhắc đến Đền Cậu Thiên Tây Thiên ở Vĩnh Phúc.)</em></li>
<li data-sourcepos="183:1-183:143"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Thờ <strong>"Cậu"</strong> trong hệ thống các vị thần linh của tín ngưỡng thờ Mẫu (đạo Mẫu), là những vị thần trẻ tuổi, lanh lợi.</li>
<li data-sourcepos="184:1-185:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Thể hiện sự đa dạng và phong phú của hệ thống thần linh trong tín ngưỡng dân gian, nơi mỗi vị thần đều có vai trò và ý nghĩa riêng. Người dân thường đến đây để cầu tài lộc, bình an.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="186:1-186:19">23. Đền Bắc Mục</h3>
<ul data-sourcepos="188:1-191:0">
<li data-sourcepos="188:1-188:60"><strong>Địa chỉ</strong>: Thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="189:1-189:107"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Thờ <strong>Thành Hoàng làng</strong> hoặc các vị <strong>thần linh bản địa</strong> có công với vùng đất.</li>
<li data-sourcepos="190:1-191:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Là điểm tựa tâm linh quan trọng đối với cộng đồng dân cư tại Hàm Yên, góp phần duy trì <strong>truyền thống sinh hoạt văn hóa làng xã</strong>, nơi tổ chức các lễ hội cộng đồng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="192:1-192:21">24. Đền Đồng Xuân</h3>
<ul data-sourcepos="194:1-197:0">
<li data-sourcepos="194:1-194:101"><strong>Địa chỉ</strong>: Khu vực ven sông Lô, Tuyên Quang (Tọa lạc trên một khu đất cao ngay bên cạnh dòng Lô).</li>
<li data-sourcepos="195:1-195:123"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Có thể thờ <strong>Thành Hoàng làng, các vị thần tự nhiên (thần núi, thần sông)</strong> hoặc <strong>các vị Mẫu</strong>.</li>
<li data-sourcepos="196:1-197:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Sự hiện diện của ngôi đền trong đời sống người dân thể hiện sự <strong>kính trọng đối với các bậc tiền nhân</strong> và niềm tin vào sự che chở của các thế lực siêu nhiên, hướng con người tới những giá trị thiện lành.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="198:1-198:20">25. Đền Hang Vực</h3>
<ul data-sourcepos="200:1-203:0">
<li data-sourcepos="200:1-200:100"><strong>Địa chỉ</strong>: Huyện Sơn Dương, Tuyên Quang (thông tin cụ thể về địa chỉ xã/thôn cần xác minh thêm).</li>
<li data-sourcepos="201:1-201:204"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Tên gọi "Hang Vực" gợi lên hình ảnh của sự huyền bí, gắn liền với địa hình tự nhiên. Đền có thể thờ <strong>thần hang, thần núi, hoặc các vị thần cai quản khu vực tự nhiên hiểm trở</strong>.</li>
<li data-sourcepos="202:1-203:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Loại hình đền này thường mang đậm dấu ấn của <strong>tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn</strong> và các vị thần rừng núi, thể hiện sự tôn kính của con người đối với thiên nhiên hùng vĩ và những yếu tố kỳ bí của nó.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="204:1-204:23">26. Lâm Sơn linh từ</h3>
<ul data-sourcepos="206:1-209:0">
<li data-sourcepos="206:1-206:55"><strong>Địa chỉ</strong>: Tổ 1, phường Nông Tiến, TP. Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="207:1-207:176"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: "Lâm Sơn" có nghĩa là rừng núi. Do đó, Lâm Sơn Linh Từ rất có thể là một ngôi đền thờ <strong>Thánh Mẫu Thượng Ngàn</strong>, hoặc các vị <strong>thần rừng, thần núi</strong>.</li>
<li data-sourcepos="208:1-209:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Loại đền này đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nơi người dân tìm về để cầu mong sự phù hộ của rừng núi. Đây là một phần của <strong>tín ngưỡng phồn thực</strong> và sự tôn kính thiên nhiên của người Việt.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="210:1-210:25">27. Đền Cô Minh Lương</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bdd677ff84.jpg" alt="đền cô bé minh lương tuyên quang" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="870" height="608"></p>
<ul data-sourcepos="212:1-215:0">
<li data-sourcepos="212:1-212:56"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Lăng Quán, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="213:1-213:164"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Đền thờ <strong>"Cô"</strong>, thường là một vị Thánh Cô trẻ tuổi, tài phép, có công trong việc giúp đỡ người dân hoặc đi theo hầu cận các vị Mẫu lớn.</li>
<li data-sourcepos="214:1-215:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Phản ánh sự phong phú trong hệ thống thần linh của tín ngưỡng thờ Mẫu, nơi có sự hiện diện của nhiều vị thần với vai trò và câu chuyện khác nhau. Người dân thường đến đây để cầu duyên, cầu tài lộc hoặc giải hạn.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="216:1-216:21">28. Đền Bách Thần</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202506/image_870x_683bdd939a109.jpg" alt="đền bách thần tuyên quang" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="870" height="572"></p>
<ul data-sourcepos="218:1-221:0">
<li data-sourcepos="218:1-218:56"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="219:1-219:228"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Là nơi thờ cúng <strong>các vị thần linh đa dạng</strong> ("Bách Thần" nghĩa là trăm vị thần), thể hiện sự phong phú của tín ngưỡng dân gian và vai trò của các vị thần trong đời sống tâm linh của người dân bản địa.</li>
<li data-sourcepos="220:1-221:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Góp phần duy trì sự đa dạng trong tín ngưỡng thờ cúng, nơi người dân có thể tìm thấy sự kết nối với nhiều thế lực siêu nhiên khác nhau.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="222:1-222:39">29. Đền Trung (Đền Thượng) Cảnh Đền</h3>
<ul data-sourcepos="224:1-227:0">
<li data-sourcepos="224:1-224:57"><strong>Địa chỉ</strong>: Xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.</li>
<li data-sourcepos="225:1-225:208"><strong>Thánh tích thờ cúng</strong>: Tên gọi "Trung" hoặc "Thượng" thường chỉ vị trí của đền trong một quần thể tâm linh nào đó. Đền này có thể thờ <strong>Thành Hoàng làng</strong> hoặc các vị <strong>thần linh có công với địa phương</strong>.</li>
<li data-sourcepos="226:1-227:0"><strong>Giá trị văn hóa - tín ngưỡng</strong>: Là nơi duy trì các <strong>lễ hội truyền thống</strong>, nơi cộng đồng quy tụ, thắt chặt mối quan hệ xã hội thông qua các nghi thức và hoạt động văn hóa dân gian.</li>
</ul>
<p data-sourcepos="230:1-230:458">Hệ thống đền thờ tại Tuyên Quang là một bức tranh đa sắc về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của người Việt. Mỗi ngôi đền không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là một kho tàng di sản phi vật thể với những nghi lễ, truyền thuyết và văn hóa Hầu Thánh độc đáo. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của những ngôi đền này không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của người dân Tuyên Quang, góp phần làm phong phú thêm bản đồ du lịch tâm linh của Việt Nam.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Lào Cai: Nơi biên cương cất giấu đền chùa linh thiêng – Khám phá Đền Thượng, Đền Mẫu và huyền thoại Ông Hoàng Bảy.</title>
<link>https://tuvidonga.com/den-chua-linh-thieng-tai-lao-cai</link>
<guid>https://tuvidonga.com/den-chua-linh-thieng-tai-lao-cai</guid>
<description><![CDATA[ Lào Cai những ngôi đền linh thiêng, mang trong mình bao câu chuyện lịch sử, truyền thuyết và niềm tin tâm linh sâu sắc. Mỗi ngôi đền, chùa ở đây không chỉ là nơi thờ phụng mà còn là minh chứng sống động cho bản sắc văn hóa và tinh thần của người Việt. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_6839bcf837dc6.jpg" length="190992" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Fri, 30 May 2025 21:20:44 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords></media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="1:1-1:389">Trên miền đất biên cương Lào Cai, nơi núi non hùng vĩ hòa cùng mây trời, không chỉ ẩn chứa vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ mà còn là điểm hội tụ của những <strong>ngôi đền linh thiêng</strong>, mang trong mình bao câu chuyện lịch sử, truyền thuyết và niềm tin tâm linh sâu sắc. Mỗi ngôi đền, chùa ở đây không chỉ là nơi thờ phụng mà còn là minh chứng sống động cho bản sắc văn hóa và tinh thần của người Việt.</p>
<h3 data-sourcepos="5:1-5:70">1. Đền Thượng (Thánh Trần Từ) – Linh khí tụ hội, uy nghi sừng sững</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6839bcf85deb9.jpg" alt="" width="789" height="592" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="7:1-12:0">
<li data-sourcepos="7:1-7:314"><strong>Vị trí:</strong> Đền tọa lạc trên đỉnh <strong>núi Mai Lĩnh</strong>, thuộc địa phận <strong>phường Lào Cai, thành phố Lào Cai</strong>. Vị trí đắc địa này giúp đền có tầm nhìn bao quát toàn cảnh thành phố, dòng sông Nhuệ Giang (là một nhánh của sông Hồng), và xa xa là những dãy núi trùng điệp, tạo nên một không gian thanh tịnh và uy nghiêm.</li>
<li data-sourcepos="8:1-8:528"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Lịch sử Đền Thượng gắn liền với những chiến công lẫy lừng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII. Tương truyền, chính ông đã từng dừng chân tại đây để chỉ huy trận chiến, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân. Ngôi đền được xây dựng để ghi nhớ công ơn và tôn vinh vị anh hùng dân tộc. Kiến trúc của đền mang đậm nét truyền thống, với những mái cong cổ kính, những họa tiết chạm khắc tinh xảo, ẩn mình dưới tán cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.</li>
<li data-sourcepos="9:1-9:160"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền Thượng là nơi thờ <strong>Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn</strong>, vị anh hùng kiệt xuất đã ba lần đánh tan quân Nguyên Mông, giữ yên bờ cõi.</li>
<li data-sourcepos="10:1-10:328"><strong>Phong cảnh:</strong> Từ đền, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh thành phố Lào Cai lung linh, dòng sông Hồng uốn lượn hiền hòa và xa xa là những ngọn núi hùng vĩ. Nơi đây không chỉ linh thiêng bởi sự thờ phụng vị anh hùng dân tộc mà còn bởi cảnh sắc hữu tình, sơn thủy hữu tình, khiến lòng người rộng mở và thanh thản.</li>
<li data-sourcepos="11:1-12:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đền Thượng nổi tiếng linh thiêng, đặc biệt vào những ngày lễ lớn, du khách và phật tử khắp nơi đổ về cầu bình an, tài lộc và tỏ lòng thành kính với Đức Thánh Trần. Hàng năm, vào ngày <strong>15 tháng Giêng âm lịch</strong>, lễ hội Đền Thượng được tổ chức long trọng, thu hút đông đảo du khách thập phương về chiêm bái, cầu an, thể hiện lòng thành kính với Đức Thánh Trần, tạo nên một không khí trang nghiêm và rộn ràng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="15:1-15:61">2. Đền Mẫu Lào Cai – Dấu ấn biên cương, cổ kính rêu phong</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6839bdc322f9d.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="17:1-22:0">
<li data-sourcepos="17:1-17:228"><strong>Vị trí:</strong> Nằm ngay sát <strong>cột mốc biên giới số 102</strong> giữa Việt Nam và Trung Quốc, thuộc địa phận <strong>phường Kim Tân, thành phố Lào Cai</strong>. Vị trí đặc biệt này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn khẳng định chủ quyền lãnh thổ.</li>
<li data-sourcepos="18:1-18:253"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Mẫu Lào Cai được xây dựng từ <strong>thế kỷ 18</strong>, là một trong những ngôi đền cổ nhất tại Lào Cai. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, ngôi đền vẫn giữ được nét cổ kính, rêu phong, như một chứng nhân lịch sử của vùng đất biên cương.</li>
<li data-sourcepos="19:1-19:202"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ <strong>Thánh Mẫu Liễu Hạnh</strong>, một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, người được coi là biểu tượng của lòng từ bi, nhân ái, luôn phù hộ, che chở cho chúng sinh.</li>
<li data-sourcepos="20:1-20:276"><strong>Phong cảnh:</strong> Khung cảnh quanh đền yên bình, với dòng sông Hồng hiền hòa chảy qua, tạo nên một bức tranh thủy mặc đẹp đến nao lòng. Sự hiện diện của đền gần biên giới không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho người dân nơi địa đầu Tổ quốc.</li>
<li data-sourcepos="21:1-22:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đền Mẫu nổi tiếng linh thiêng, đặc biệt là với những ai tin vào tín ngưỡng thờ Mẫu. Nhiều du khách đến đây cầu nguyện và cảm nhận được sự linh ứng từ những lời cầu an, cầu phúc, thể hiện qua những câu chuyện về sự thành công, bình an sau khi đến viếng đền.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="25:1-25:82">3. Đền Bảo Hà (Đền Ông Hoàng Bảy) – Nơi trấn giữ biên ải, linh thiêng bậc nhất</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6839be1fc2b38.jpg" alt="đền bảo hà" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="870" height="580"></p>
<ul data-sourcepos="27:1-32:0">
<li data-sourcepos="27:1-27:153"><strong>Vị trí:</strong> Đền tọa lạc tại <strong>xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai</strong>, cách thành phố Lào Cai khoảng 60km về phía Nam, nằm ngay bên tả ngạn sông Hồng.</li>
<li data-sourcepos="28:1-28:283"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Lịch sử Đền Bảo Hà gắn liền với những truyền thuyết về tài năng và lòng dũng cảm của Ông Hoàng Bảy trong việc chống giặc ngoại xâm, trấn giữ biên ải, khai khẩn đất hoang và bảo vệ cuộc sống của người dân. Ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ công ơn của ông.</li>
<li data-sourcepos="29:1-29:270"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền Bảo Hà là nơi thờ <strong>Ông Hoàng Bảy</strong>, một vị thần vệ quốc, được nhân dân tôn kính. Ông Hoàng Bảy được cho là một vị tướng của triều đình Lê - Mạc, có công lớn trong việc trấn giữ vùng biên cương, dẹp loạn thổ phỉ, bảo vệ an ninh cho nhân dân.</li>
<li data-sourcepos="30:1-30:268"><strong>Phong cảnh:</strong> Ngôi đền có kiến trúc uy nghi, bề thế, chạm khắc tinh xảo, thể hiện sự tôn kính của nhân dân đối với vị thần. Không gian xung quanh đền khoáng đạt, hùng vĩ với núi non điệp trùng, sông nước hữu tình, tạo nên một cảm giác vừa trang nghiêm vừa gần gũi.</li>
<li data-sourcepos="31:1-32:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đền Bảo Hà nổi tiếng linh thiêng, đặc biệt là với những người làm kinh doanh, buôn bán. Hàng năm, Đền Bảo Hà tổ chức nhiều lễ hội lớn nhỏ, đặc biệt là lễ hội chính vào ngày <strong>17 tháng 7 âm lịch</strong>, thu hút hàng vạn lượt khách thập phương đến dâng hương, cầu tài lộc, bình an và tỏ lòng biết ơn. Nhiều người tin rằng, khi đến đây cầu nguyện sẽ được Ông Hoàng Bảy phù hộ, ban cho tài lộc, may mắn và cuộc sống thịnh vượng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="35:1-35:44">4. Đền Cấm – Chứng tích lịch sử oai hùng</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6839be57700cd.jpg" alt="" width="823" height="617" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="37:1-42:0">
<li data-sourcepos="37:1-37:115"><strong>Vị trí:</strong> Đền Cấm nằm trong khu vực <strong>phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai</strong>, cách trung tâm thành phố không xa.</li>
<li data-sourcepos="38:1-38:354"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Cấm là một di tích lịch sử cấp quốc gia, được công nhận vào năm <strong>2001</strong>. Lịch sử đền gắn liền với những trang sử hào hùng của dân tộc, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Tương truyền, nơi đây từng là chiến trường ác liệt, nơi các vị tướng sĩ nhà Trần đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ đất nước.</li>
<li data-sourcepos="39:1-39:159"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ <strong>5 vị Quan binh nhà Trần</strong> và <strong>Bà Chúa Cấm</strong>, những người đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.</li>
<li data-sourcepos="40:1-40:171"><strong>Phong cảnh:</strong> Kiến trúc đền đơn giản nhưng trang trọng, gợi nhớ về những chiến công vang dội. Khuôn viên đền được giữ gìn sạch sẽ, yên tĩnh, tạo cảm giác thiêng liêng.</li>
<li data-sourcepos="41:1-42:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đứng trước Đền Cấm, du khách có thể cảm nhận rõ nét sự linh thiêng từ những chiến công oai hùng, những sự hy sinh cao cả của các vị anh hùng dân tộc. Nơi đây không chỉ là nơi để thờ phụng mà còn là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc cho các thế hệ, nhắc nhở về sự hy sinh cao cả của cha ông.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="45:1-45:68">5. Đền Đôi Cô (Đền Cô Đôi Cam Đường) – Truyền thuyết và bình yên</h3>
<ul data-sourcepos="47:1-52:0">
<li data-sourcepos="47:1-47:129"><strong>Vị trí:</strong> Đền Đôi Cô nằm tại <strong>phường Bình Minh, thành phố Lào Cai</strong>, gần với khu vực trung tâm thành phố, dễ dàng di chuyển.</li>
<li data-sourcepos="48:1-48:252"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Đôi Cô gắn liền với truyền thuyết cảm động về hai cô gái buôn vải xinh đẹp, tài năng và tấm lòng nhân ái, đã có công giúp đỡ dân làng và hy sinh anh dũng. Ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ công ơn và đức hạnh của hai cô.</li>
<li data-sourcepos="49:1-49:123"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ hai vị <strong>Cô Đôi Cam Đường</strong>, là những vị thần linh được người dân kính trọng và tin tưởng.</li>
<li data-sourcepos="50:1-50:163"><strong>Phong cảnh:</strong> Phong cảnh xung quanh đền bình dị, xanh mát, với cây cối xanh tươi và không khí trong lành, tạo cảm giác thư thái cho du khách khi đến chiêm bái.</li>
<li data-sourcepos="51:1-52:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Ngôi đền nổi tiếng linh thiêng, được người dân và du khách gần xa tìm đến cầu nguyện, đặc biệt là vào ngày <strong>13 tháng 9 âm lịch</strong> – ngày lễ hội chính. Nhiều người đến đây để cầu tình duyên, cầu bình an và may mắn, và tin rằng những lời cầu nguyện của họ sẽ được linh ứng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="55:1-55:35">6. Chùa Cam Lộ – Cổ tự bình yên</h3>
<ul data-sourcepos="57:1-62:0">
<li data-sourcepos="57:1-57:110"><strong>Vị trí:</strong> Chùa Cam Lộ nằm gần <strong>Đền Đôi Cô</strong>, cũng thuộc địa phận <strong>phường Bình Minh, thành phố Lào Cai</strong>.</li>
<li data-sourcepos="58:1-58:232"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Chùa Cam Lộ là một ngôi chùa cổ kính được xây dựng từ hơn <strong>200 năm trước</strong>. Chùa gắn liền với giai thoại lịch sử về hai ông <strong>Lý Lợi và Phó Ngà</strong>, những người có công khai hoang, lập nghiệp ở vùng đất này.</li>
<li data-sourcepos="59:1-59:89"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Chùa thờ Phật, là nơi các Phật tử đến lễ bái, tụng kinh, tu tập.</li>
<li data-sourcepos="60:1-60:137"><strong>Phong cảnh:</strong> Chùa Cam Lộ mang vẻ đẹp trầm mặc, yên bình, với kiến trúc cổ kính, rêu phong, nằm giữa không gian xanh mát của cây cối.</li>
<li data-sourcepos="61:1-62:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Chùa là nơi lý tưởng để tìm về chốn tịnh tâm, tránh xa những ồn ào của cuộc sống, cảm nhận sự thanh tịnh và an lạc. Dù không phải là nơi thờ các vị thần cụ thể, nhưng sự thanh tịnh và cổ kính của chùa mang lại cảm giác linh thiêng cho những ai đến đây.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="65:1-65:74">7. Chùa Tân Bảo (Chùa Lê Lợi) – Dấu ấn thời Trần, nơi gửi gắm niềm tin</h3>
<ul data-sourcepos="67:1-72:0">
<li data-sourcepos="67:1-67:108"><strong>Vị trí:</strong> Chùa Tân Bảo nằm tại <strong>phường Phố Mới, thành phố Lào Cai</strong>, cách trung tâm thành phố không xa.</li>
<li data-sourcepos="68:1-68:167"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Chùa Tân Bảo, hay còn gọi là <strong>Chùa Lê Lợi</strong>, là một ngôi chùa cổ có từ thời <strong>Trần</strong>, mang trong mình dấu ấn của lịch sử Phật giáo Việt Nam.</li>
<li data-sourcepos="69:1-69:86"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Chùa thờ Phật, là nơi các Phật tử đến lễ bái, cầu an, tu tập.</li>
<li data-sourcepos="70:1-70:225"><strong>Phong cảnh:</strong> Kiến trúc chùa mang đậm nét cổ kính, với những mái ngói rêu phong, những pho tượng cổ kính, toát lên vẻ trang nghiêm và thanh tịnh. Khuôn viên chùa rộng rãi, thoáng mát, tạo không gian yên bình cho du khách.</li>
<li data-sourcepos="71:1-72:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Chùa Tân Bảo nổi tiếng linh thiêng, được nhiều khách thập phương đến lễ bái, cầu an. Nhiều người tin rằng, khi đến chùa thành tâm cầu nguyện sẽ được Phật phù hộ, ban cho sức khỏe, bình an và may mắn trong cuộc sống.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="75:1-75:61">8. Đền Cô Tân An – Nơi cai quản sơn lâm, ban phát an lành</h3>
<ul data-sourcepos="77:1-82:0">
<li data-sourcepos="77:1-77:110"><strong>Vị trí:</strong> Đền Cô Tân An nằm tại <strong>phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai</strong>, nằm cạnh đền Bảo Hà.</li>
<li data-sourcepos="78:1-78:150"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Cô Tân An là nơi thờ Công chúa Thượng Ngàn, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn trong văn hóa dân gian Việt Nam.</li>
<li data-sourcepos="79:1-79:311"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ <strong>Công chúa Thượng Ngàn</strong>, hóa thân của <strong>Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn</strong>, vị thần cai quản <strong>81 cửa rừng, hang động</strong> của miền núi rừng và cả đồng bằng. Bà được coi là vị thần che chở cho những người làm nghề rừng, những người sinh sống dựa vào núi rừng, mang đến sự bình an, may mắn.</li>
<li data-sourcepos="80:1-80:118"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền Cô Tân An mang một vẻ đẹp giản dị, gần gũi với thiên nhiên, với không gian xanh mát của cây cối.</li>
<li data-sourcepos="81:1-82:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đến đây, du khách có thể cảm nhận được sự hòa mình vào không gian núi rừng, cầu nguyện cho một cuộc sống an lành, sung túc, đặc biệt là những người làm nghề liên quan đến núi rừng thường xuyên đến đây cầu khấn.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="85:1-85:46">9. Đền Trung Đô – Dấu ấn cổ xưa của Bắc Hà</h3>
<ul data-sourcepos="87:1-92:0">
<li data-sourcepos="87:1-87:127"><strong>Vị trí:</strong> Đền Trung Đô tọa lạc tại <strong>xã Trung Đô, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai</strong>, cách trung tâm huyện lỵ Bắc Hà khoảng 10km.</li>
<li data-sourcepos="88:1-88:273"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Trung Đô là một trong những di tích lịch sử văn hóa nổi bật của tỉnh Lào Cai, gắn liền với lịch sử và văn hóa lâu đời của vùng đất Bắc Hà. Ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ những vị tướng lĩnh, những người có công với đất nước trong quá khứ.</li>
<li data-sourcepos="89:1-89:126"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ các vị anh hùng dân tộc, những người có công trong việc bảo vệ và xây dựng vùng đất Trung Đô.</li>
<li data-sourcepos="90:1-90:152"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền nằm trong một không gian yên bình, với cảnh quan thiên nhiên đặc trưng của vùng núi Bắc Hà, mang đến cảm giác thư thái, thoát tục.</li>
<li data-sourcepos="91:1-92:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đền là nơi người dân địa phương và du khách đến cầu nguyện cho cuộc sống ấm no, bình an, thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh vì quê hương.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="95:1-95:48">10. Đền Bắc Hà – Nơi hội tụ tinh hoa văn hóa</h3>
<ul data-sourcepos="97:1-102:0">
<li data-sourcepos="97:1-97:129"><strong>Vị trí:</strong> Đền Bắc Hà nằm ngay tại <strong>thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai</strong>, rất thuận tiện cho du khách đến tham quan.</li>
<li data-sourcepos="98:1-98:178"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Bắc Hà là một trong những di tích văn hóa quan trọng, là nơi tổ chức nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số tại Bắc Hà.</li>
<li data-sourcepos="99:1-99:181"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ các vị thần linh, những người có công khai phá và bảo vệ vùng đất Bắc Hà, đồng thời cũng là nơi thể hiện tín ngưỡng đa dạng của các dân tộc nơi đây.</li>
<li data-sourcepos="100:1-100:177"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền nằm trong khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, mang đậm nét kiến trúc truyền thống của vùng núi phía Bắc, hòa mình vào không gian văn hóa đặc trưng của Bắc Hà.</li>
<li data-sourcepos="101:1-102:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đền không chỉ là nơi thờ phụng mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi tổ chức nhiều lễ hội truyền thống, thu hút đông đảo du khách. Những lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để giao lưu văn hóa, thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="105:1-105:45">11. Đền Ken – Dấu ấn lịch sử vùng Văn Bàn</h3>
<ul data-sourcepos="107:1-112:0">
<li data-sourcepos="107:1-107:147"><strong>Vị trí:</strong> Đền Ken tọa lạc tại <strong>huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai</strong>. Vị trí cụ thể thường nằm ở những nơi có địa thế đẹp, gần sông suối hoặc núi non.</li>
<li data-sourcepos="108:1-108:162"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Ken là một trong những di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Lào Cai, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Văn Bàn.</li>
<li data-sourcepos="109:1-109:127"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ các vị thần linh, anh hùng dân tộc hoặc những người có công khai phá, bảo vệ vùng đất Văn Bàn.</li>
<li data-sourcepos="110:1-110:157"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền Ken thường nằm trong không gian yên tĩnh, hòa mình vào cảnh quan thiên nhiên đặc trưng của huyện Văn Bàn, mang đến cảm giác thanh tịnh.</li>
<li data-sourcepos="111:1-112:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Là nơi người dân địa phương thường xuyên đến cầu nguyện, thể hiện lòng thành kính và mong ước về cuộc sống bình an, ấm no.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="115:1-115:49">12. Đền Phúc Khánh – Nét đẹp tâm linh Bảo Yên</h3>
<ul data-sourcepos="117:1-122:0">
<li data-sourcepos="117:1-117:109"><strong>Vị trí:</strong> Đền Phúc Khánh nằm tại <strong>huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai</strong>, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa.</li>
<li data-sourcepos="118:1-118:185"><strong>Lịch sử hình thành:</strong> Đền Phúc Khánh nằm trong danh sách các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Lào Cai, mang trong mình những giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc của vùng đất Bảo Yên.</li>
<li data-sourcepos="119:1-119:111"><strong>Vị Thánh được thờ:</strong> Đền thờ các vị thần linh hoặc những nhân vật lịch sử có công lớn với vùng đất Bảo Yên.</li>
<li data-sourcepos="120:1-120:143"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền có kiến trúc truyền thống, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên xung quanh, tạo nên một không gian yên bình và trang nghiêm.</li>
<li data-sourcepos="121:1-122:0"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Đền Phúc Khánh là điểm đến tâm linh quan trọng của người dân địa phương, nơi họ đến để cầu nguyện cho sức khỏe, tài lộc và sự bình an cho gia đình.</li>
</ul>
<p data-sourcepos="145:1-145:493">Mỗi ngôi đền, chùa trên đất Lào Cai không chỉ là một kiến trúc cổ kính mà còn là một câu chuyện, một truyền thuyết, một niềm tin được gìn giữ qua bao thế hệ. Đến với Lào Cai, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ mà còn được đắm mình vào không gian tâm linh huyền bí, cảm nhận sự linh thiêng và bình yên nơi miền biên cương Tổ quốc. Đây chắc chắn sẽ là một hành trình đầy ý nghĩa, nơi bạn tìm thấy sự an lạc trong tâm hồn và hiểu thêm về chiều sâu văn hóa của đất Việt.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Lạng Sơn: Dấu Ấn Lịch Sử Hào Hùng Qua Hơn 30 Ngôi Đền Cổ Kính</title>
<link>https://tuvidonga.com/den-chua-tai-lang-son</link>
<guid>https://tuvidonga.com/den-chua-tai-lang-son</guid>
<description><![CDATA[ Lạng Sơn, vùng đất biên cương hùng vĩ, không chỉ là nơi giao thương sầm uất mà còn là cái nôi của nhiều di tích lịch sử - văn hóa và các ngôi đền linh thiêng. Những công trình này không chỉ là điểm tựa tâm linh của người dân mà còn là minh chứng sống động cho chiều dài lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của xứ Lạng. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_6838642fa6a2a.jpg" length="191725" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 29 May 2025 18:43:25 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>Lạng Sơn: Dấu Ấn Lịch Sử Hào Hùng Qua Hơn 30 Ngôi Đền Cổ Kính</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="1:1-1:356">Lạng Sơn, vùng đất biên cương hùng vĩ, không chỉ là nơi giao thương sầm uất mà còn là cái nôi của nhiều di tích lịch sử - văn hóa và các ngôi đền linh thiêng. Những công trình này không chỉ là điểm tựa tâm linh của người dân mà còn là minh chứng sống động cho chiều dài lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng độc đáo của xứ Lạng.</p>
<p data-sourcepos="3:1-3:157">Dưới đây là danh sách 20 ngôi đền linh thiêng nổi bật tại Lạng Sơn, bao gồm tên đền, vị trí, vị thánh được thờ cúng và khái quát về sự linh thiêng của chúng:</p>
<h2 data-sourcepos="13:1-13:46">I. Các Đền Thờ Mẫu và Thần Linh Quan Trọng</h2>
<p data-sourcepos="15:1-15:127">Các đền thờ Mẫu và các vị thần linh có công là những trung tâm tín ngưỡng lớn, thu hút đông đảo du khách và tín đồ từ khắp nơi. Dưới đây là bảng tóm tắt Tên đền:</p>
<table width="100%" border="1px" style="height: 755.333px;">
<tbody>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="text-align: center; width: 5.57958%;"><strong>Thứ Tự</strong></td>
<td style="text-align: center; width: 34.1263%;"><strong>Tên Đền</strong></td>
<td style="text-align: center; width: 60.2725%;">
<div>
<div><strong>Địa Chỉ Chính (hoặc khu vực)</strong></div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">1</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Mẫu Đồng Đăng</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">2</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Bắc Lệ (Đền Công Đồng Bắc Lệ)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Bắc Lệ, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">3</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Kỳ Cùng (Đền Quan Lớn Tuần Tranh)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn (Bên tả ngạn sông Kỳ Cùng)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">4</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Tả Phủ</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Đường Trần Đăng Ninh, phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">5</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Tam Thanh (Chùa Tam Thanh)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Trong động Tam Thanh, phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">6</td>
<td style="width: 34.1263%;">Chùa Tiên (Song Tiên Tự)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">7</td>
<td style="width: 34.1263%;">Chùa Thành (Diên Khánh Tự)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">8</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Quan Lớn Tuần Tranh (tại Văn Lãng)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Khu 2, thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">9</td>
<td style="width: 34.1263%;">Chùa Tân Thanh</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Khu vực cửa khẩu Tân Thanh, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">10</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Vua Lê (Đền thờ vọng Vua Lê Thái Tổ)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Hoàng Tân, xã Hoàng Đồng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">11</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Quỷ Môn Quan (Đền Quan Trấn Ải)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Quán Thanh, xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">12</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chi Lăng</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Huyện Chi Lăng (thuộc quần thể di tích Chi Lăng)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">13</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Cửa Đông (Đông Môn Từ)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>số 67A đường Hùng Vương,<b> </b>Phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">14</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Cửa Tây (Tây Môn Từ)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Đường Tràn Hưng Đạo, Phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">15</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Cửa Nam (Nam Môn Từ)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div><span>67 Hùng Vương, </span>Phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">16</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Cửa Bắc (Bắc Môn Từ)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div><span>1 Trần Nhật Duật, </span>Phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">17</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chầu Lục</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Cốc Làng, xã Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">18</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chầu Bát (Đền Chầu Bát Bát Nàn)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Bát Nàn, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">19</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chầu Mười Đồng Mỏ</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">20</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Cô Chín Thượng Ngàn</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Nà Lùng, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia (hoặc khu vực Chi Lăng, Lạng Sơn; Hòa Bình)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">21</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chầu Năm Suối Lân</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Suối Lân, xã Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">22</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Quan Giám Sát</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Việt Thắng, xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">23</td>
<td style="width: 34.1263%;">Chùa Bắc Nga</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Xã Bắc Nga, huyện Cao Lộc</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">24</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Nà Lộc</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Xã Nà Lộc, huyện Bình Gia (hoặc các địa danh khác)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">25</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Phia Dạng</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Khu vực núi Phia Dạng, huyện Lộc Bình hoặc Cao Lộc</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">26</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Long Đầu</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Gần suối Long Đầu, khu vực núi Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">27</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Bình Cương</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Khu 4, thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">28</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Thanh Lãng</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Xã Thanh Lãng, huyện Đình Lập (hoặc các địa danh khác)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">29</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Xã Đoàn</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Xã Xã Đoàn, huyện Chi Lăng (hoặc các địa danh khác)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">30</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chúa Then (Chúa Thượng Ngàn)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Nà Lùng, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia (hoặc khu vực Bắc Giang)</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">31</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Chúa Cà Phê (Chúa Bói Thượng Ngàn)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr style="height: 22.8889px;">
<td style="width: 5.57958%;">32</td>
<td style="width: 34.1263%;">Đền Đèo Kẻng (Sơn Lâm Linh Tự)</td>
<td style="width: 60.2725%;">
<div>
<div>Thôn Vườn Chè, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h4 data-sourcepos="19:1-19:25">1. Đền Mẫu Đồng Đăng</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683860a43e4bd.jpg" alt="" width="827" height="621" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="21:1-24:0">
<li data-sourcepos="21:1-21:63"><strong>Vị trí:</strong> Thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="22:1-22:97"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Mẫu Liễu Hạnh</strong> (Mẫu Tam Phủ), Phật và các vị thần linh khác.</li>
<li data-sourcepos="23:1-24:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Là ngôi đền thờ Mẫu lớn và cổ kính bậc nhất xứ Lạng, được xem là <strong>"tứ trấn linh từ"</strong> của vùng biên ải. Ngôi đền có lịch sử lâu đời, kiến trúc độc đáo, mang đậm nét văn hóa truyền thống. Nơi đây nổi tiếng linh thiêng, thu hút hàng triệu lượt khách hành hương mỗi năm, đặc biệt vào mùa lễ hội đầu xuân. Người dân tin rằng Mẫu Liễu Hạnh sẽ phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, ban tài phát lộc, và che chở cho con dân được bình an, hạnh phúc. <strong>Đền Mẫu Đồng Đăng là một trong những trung tâm lớn thường xuyên tổ chức nghi lễ hầu đồng.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="25:1-25:41">2. Đền Bắc Lệ (Đền Công Đồng Bắc Lệ)</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68386007eb307.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="27:1-30:0">
<li data-sourcepos="27:1-27:71"><strong>Vị trí:</strong> Thôn Bắc Lệ, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="28:1-28:196"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Thánh Mẫu Thượng Ngàn</strong>, cùng các vị Chầu, Quan, Cô, Cậu trong hệ thống Tứ Phủ Công Đồng. Đặc biệt, Đền thờ <strong>Chầu Bé Bắc Lệ</strong>, <strong>Cô Bé Thượng Ngàn (Cô Bé Bắc Lệ)</strong>.</li>
<li data-sourcepos="29:1-30:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Là một trong những trung tâm thờ Mẫu lớn nhất miền Bắc, linh thiêng bậc nhất trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ. Đền Bắc Lệ nổi tiếng linh ứng với những lời cầu xin về sức khỏe, tài lộc, bình an, đặc biệt là cầu duyên và cầu tự. Lễ hội tháng 9 âm lịch hàng năm thu hút hàng vạn tín đồ về dự, thể hiện rõ nét giá trị văn hóa và tín ngưỡng thờ Mẫu. <strong>Đây là một trong những thánh đường lớn nhất của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, nơi hầu đồng diễn ra sôi nổi và thường xuyên.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="31:1-31:45">3. Đền Kỳ Cùng (Đền Quan Lớn Tuần Tranh)</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6838637bf324b.jpg" alt="" width="820" height="574" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="33:1-36:0">
<li data-sourcepos="33:1-33:99"><strong>Vị trí:</strong> Bên tả ngạn sông Kỳ Cùng, ngay đầu cầu Kỳ Cùng, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="34:1-34:83"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Quan Lớn Tuần Tranh</strong> (Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh).</li>
<li data-sourcepos="35:1-36:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Kỳ Cùng là một trong <strong>"Tứ Trấn"</strong> của xứ Lạng, mang ý nghĩa trấn giữ vùng đất này, đặc biệt là tuyến giao thương đường thủy quan trọng. Quan Lớn Tuần Tranh được thờ phụng tại đây là vị thần bảo hộ cho giao thương, an bình cho người dân. Đền linh thiêng trong việc cầu tài lộc, bình an cho những người làm ăn buôn bán, đặc biệt là những người liên quan đến sông nước. <strong>Nơi đây cũng là một trong những địa điểm thường xuyên có các buổi hầu đồng kính thỉnh Quan Lớn Tuần Tranh.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="37:1-37:18">4. Đền Tả Phủ</h4>
<ul data-sourcepos="39:1-42:0">
<li data-sourcepos="39:1-39:91"><strong>Vị trí:</strong> Đường Trần Đăng Ninh, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn (gần Đền Kỳ Cùng).</li>
<li data-sourcepos="40:1-40:114"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Công đồng Tả Phủ</strong>, các vị quan lớn, đặc biệt là các vị thần trấn giữ biên ải.</li>
<li data-sourcepos="41:1-42:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Cùng với Đền Kỳ Cùng, Đền Tả Phủ tạo thành cặp đôi trấn giữ vùng Lạng Sơn. Ngôi đền này được cho là linh ứng trong việc cầu nguyện cho sự ổn định, bình yên của biên giới và sự thịnh vượng trong kinh doanh. Đền cũng là minh chứng cho lịch sử trấn ải của vùng đất này. <strong>Đền Tả Phủ cũng là nơi diễn ra các nghi lễ hầu đồng, đặc biệt là các giá về Quan Hoàng, Chầu Bà có liên quan đến công đồng Tả Phủ.</strong></li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="45:1-45:57">II. Các Đền và Chùa Phối Thờ, Gắn Liền Với Danh Thắng</h2>
<p data-sourcepos="47:1-47:100">Những ngôi đền này không chỉ là nơi thờ tự mà còn là một phần của các quần thể danh thắng nổi tiếng.</p>
<h4 data-sourcepos="49:1-49:38">5. Chùa Tam Thanh.</h4>
<ul data-sourcepos="51:1-54:0">
<li data-sourcepos="51:1-51:79"><strong>Vị trí:</strong> Trong động Tam Thanh, thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="52:1-52:215"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Mặc dù là chùa Phật giáo, nhưng trong khuôn viên động Tam Thanh cũng có những ban thờ Mẫu và các vị thần linh dân gian. Nổi bật là thờ <strong>Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Quan Thế Âm Bồ Tát</strong>.</li>
<li data-sourcepos="53:1-54:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Chùa Tam Thanh không chỉ là di tích Phật giáo mà còn là một danh thắng nổi tiếng với vẻ đẹp kỳ vĩ của hang động. Nơi đây mang đến sự thanh tịnh, bình an cho du khách và Phật tử. Giá trị tâm linh của động chùa được cảm nhận qua không gian hùng vĩ, những khối đá tự nhiên mang hình dáng kỳ lạ, tạo nên một cõi thiêng giữa lòng núi đá, gắn liền với những truyền thuyết về Tiên. <strong>Đôi khi, các ban thờ Mẫu trong động Tam Thanh cũng có thể là nơi diễn ra các buổi hầu đồng nhỏ, mang tính chất cục bộ.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="55:1-55:32">6. Chùa Tiên (Song Tiên Tự)</h4>
<ul data-sourcepos="57:1-60:0">
<li data-sourcepos="57:1-57:118"><strong>Vị trí:</strong> Khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn. Chùa nằm trong động Song Tiên, gần Giếng Tiên.</li>
<li data-sourcepos="58:1-58:249"><strong>Vị thánh/Phật được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Quan Thế Âm Bồ Tát</strong>, và các vị Tiên, thánh có công với đất nước. Đặc biệt nổi tiếng với <strong>Giếng Tiên</strong> không bao giờ cạn, gắn liền với truyền thuyết Tiên ông ban nước cho dân làng.</li>
<li data-sourcepos="59:1-60:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Chùa Tiên là một danh thắng nổi tiếng với vẻ đẹp kỳ vĩ của thạch động và Giếng Tiên linh thiêng. Nơi đây mang đến sự thanh tịnh, bình an cho du khách và Phật tử, đặc biệt linh ứng với những lời cầu nguyện về sức khỏe, sự may mắn và sự kết nối với thiên nhiên.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="61:1-61:34">7. Chùa Thành (Diên Khánh Tự)</h4>
<ul data-sourcepos="63:1-66:0">
<li data-sourcepos="63:1-63:68"><strong>Vị trí:</strong> Đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="64:1-64:129"><strong>Vị thánh/Phật được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị Bồ Tát</strong>, và có thể phối thờ thêm các vị thần linh bản địa.</li>
<li data-sourcepos="65:1-66:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Là ngôi chùa cổ và lớn nhất thành phố Lạng Sơn, Chùa Thành mang kiến trúc độc đáo và bề thế. Ngôi chùa này là trung tâm Phật giáo quan trọng của xứ Lạng, nơi diễn ra nhiều hoạt động Phật sự và là điểm đến tâm linh cho người dân cầu an, cầu siêu, tìm đến sự thanh tịnh trong tâm hồn.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="67:1-67:46">8. Đền Quan Lớn Tuần Tranh cổ</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68386eef2e261.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="69:1-72:0">
<li data-sourcepos="69:1-69:105"><strong>Vị trí:</strong> Đường Tam Thanh, TP Lạng Sơn (một đền riêng biệt với Đền Kỳ Cùng).</li>
<li data-sourcepos="70:1-70:58"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Quan Lớn Tuần Tranh</strong>.</li>
<li data-sourcepos="71:1-72:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đây là một trong những ngôi đền thờ Quan Lớn Tuần Tranh được người dân địa phương rất tôn kính, đặc biệt những người làm ăn buôn bán, giao thương tại khu vực biên giới. Đền linh ứng với những lời cầu nguyện về bình an trên sông nước, công việc thuận lợi, góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế của vùng. <strong>Các nghi lễ hầu đồng cũng thường được tổ chức tại đây để kính thỉnh Quan Lớn.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="73:1-73:21">9. Đền Tân Thanh</h4>
<ul data-sourcepos="75:1-78:0">
<li data-sourcepos="75:1-75:86"><strong>Vị trí:</strong> Khu vực cửa khẩu Tân Thanh, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="76:1-76:169"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Mặc dù là chùa (Chùa Tân Thanh) nhưng cũng có các ban thờ thần linh, đặc biệt là các vị thần bảo hộ biên giới. Chùa Tân Thanh thờ <strong>Phật</strong>.</li>
<li data-sourcepos="77:1-78:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Ngôi chùa gần biên giới nhất Việt Nam, mang ý nghĩa trấn giữ biên cương. Chùa Tân Thanh là điểm đến tâm linh quan trọng cho các tiểu thương, doanh nhân làm ăn ở cửa khẩu, cầu mong sự bình an, may mắn trong kinh doanh và sự ổn định cho khu vực biên giới.</li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="81:1-81:70">III. Các Đền Gắn Với Lịch Sử Chống Ngoại Xâm và Tín Ngưỡng Đa Dạng</h2>
<p data-sourcepos="83:1-83:109">Những ngôi đền này không chỉ thờ phụng các vị thần mà còn khắc ghi dấu ấn của những sự kiện lịch sử hào hùng.</p>
<h4 data-sourcepos="85:1-85:49">10. Đền Vua Lê .</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6838611614728.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em>Đền vua Lê tại Lạng Sơn</em></p>
<ul data-sourcepos="87:1-90:0">
<li data-sourcepos="87:1-87:79"><strong>Vị trí:</strong> Thôn Hoàng Tân, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="88:1-88:166"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ vọng <strong>Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi)</strong> và các vị anh hùng, nghĩa sĩ Lam Sơn đã có công đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc.</li>
<li data-sourcepos="89:1-90:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Ngôi đền này có từ <strong>thế kỷ XV (năm 1428)</strong>, ngay sau khi Lê Lợi lên ngôi. Đây là minh chứng cho lòng biết ơn của nhân dân xứ Lạng đối với vị anh hùng dân tộc. Đền đã được xếp hạng <strong>di tích cấp tỉnh vào năm 2022</strong>. Lễ hội lớn vào <strong>ngày 23 tháng Giêng âm lịch</strong> hàng năm không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao Vua Lê mà còn là nét đẹp văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="91:1-91:44">11. Đền Quỷ Môn Quan (Đền Quan Trấn Ải)</h4>
<ul data-sourcepos="93:1-96:0">
<li data-sourcepos="93:1-93:74"><strong>Vị trí:</strong> Thôn Quán Thanh, xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="94:1-94:150"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Các vị <strong>tướng lĩnh, anh hùng</strong> đã hy sinh trấn giữ cửa ải Chi Lăng, biểu tượng cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm.</li>
<li data-sourcepos="95:1-96:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Nằm trong quần thể di tích lịch sử Chi Lăng, Đền Quỷ Môn Quan mang ý nghĩa lịch sử to lớn, gắn liền với những chiến công lừng lẫy của dân tộc. Đền linh ứng trong việc cầu cho đất nước bình yên, quốc thái dân an, và tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân đã hy sinh bảo vệ biên cương.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="97:1-97:21">12. Đền Chi Lăng</h4>
<ul data-sourcepos="99:1-102:0">
<li data-sourcepos="99:1-99:87"><strong>Vị trí:</strong> Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (một phần trong quần thể di tích Chi Lăng).</li>
<li data-sourcepos="100:1-100:115"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Các vị <strong>anh hùng dân tộc, tướng lĩnh</strong> có công trong các trận chiến tại ải Chi Lăng.</li>
<li data-sourcepos="101:1-102:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Gắn liền với những chiến thắng vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm, Đền Chi Lăng là biểu tượng của tinh thần thượng võ, ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam. Nơi đây là nơi linh thiêng trong việc nhắc nhở các thế hệ về truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="103:1-103:35">13. Đền Cửa Đông (Đông Môn Từ)</h4>
<ul data-sourcepos="105:1-108:0">
<li data-sourcepos="105:1-105:85"><strong>Vị trí:</strong> Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn (một trong Tứ trấn thành Lạng Sơn).</li>
<li data-sourcepos="106:1-106:128"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>thần Bạch Đế</strong> (vị thần sông Kỳ Cùng) và các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ nhà Trần.</li>
<li data-sourcepos="107:1-108:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Là một trong bốn ngôi đền trấn giữ bốn cửa thành cổ Lạng Sơn, Đền Cửa Đông mang ý nghĩa bảo vệ vùng đất. Đền linh ứng trong việc cầu bình an, bảo hộ cho những người làm ăn buôn bán, và sự thịnh vượng cho thành phố. <strong>Các buổi hầu đồng cũng có thể được tổ chức tại đây.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="109:1-109:33">14. Đền Cửa Tây (Tây Môn Từ)</h4>
<ul data-sourcepos="111:1-114:0">
<li data-sourcepos="111:1-111:85"><strong>Vị trí:</strong> Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn (một trong Tứ trấn thành Lạng Sơn).</li>
<li data-sourcepos="112:1-112:104"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, </strong>và các vị thần khác.</li>
<li data-sourcepos="113:1-114:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Cùng với các đền Cửa Đông, Cửa Nam, Cửa Bắc, Đền Cửa Tây tạo thành hệ thống trấn giữ thành cổ. Đền linh ứng trong việc cầu công danh, sự nghiệp, sức khỏe và thể hiện lòng tôn kính đối với vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. <strong>Là một trong Tứ Trấn, Đền Cửa Tây cũng là nơi các con nhang đệ tử tổ chức hầu đồng.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="115:1-115:33">15. Đền Cửa Nam (Nam Môn Từ)</h4>
<ul data-sourcepos="117:1-120:0">
<li data-sourcepos="117:1-117:85"><strong>Vị trí:</strong> Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn (một trong Tứ trấn thành Lạng Sơn).</li>
<li data-sourcepos="118:1-118:87"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ nhà Trần.</li>
<li data-sourcepos="119:1-120:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Cửa Nam mang ý nghĩa bảo vệ phía Nam của thành cổ Lạng Sơn, được người dân tin rằng sẽ mang lại sự bình yên, ổn định cho khu vực và ban phát phúc lộc cho những người thành tâm. <strong>Đền này cũng là một địa điểm tiềm năng để tổ chức nghi lễ hầu đồng.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="121:1-121:33">16. Đền Cửa Bắc (Bắc Môn Từ)</h4>
<ul data-sourcepos="123:1-126:0">
<li data-sourcepos="123:1-123:85"><strong>Vị trí:</strong> Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn (một trong Tứ trấn thành Lạng Sơn).</li>
<li data-sourcepos="124:1-124:87"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ nhà Trần.</li>
<li data-sourcepos="125:1-126:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Cửa Bắc hoàn thiện hệ thống Tứ trấn thành Lạng Sơn. Nơi đây linh ứng trong việc cầu cho biên giới ổn định, đất nước bình an và sự phát triển của Lạng Sơn. <strong>Giống như các đền cửa khác, Đền Cửa Bắc cũng có thể là nơi diễn ra các buổi hầu đồng.</strong></li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="129:1-129:74">IV. Các Đền Thờ Chư Vị Chầu Bà và Cô Đặc Trưng (Nơi Hầu Đồng Phổ Biến)</h2>
<p data-sourcepos="131:1-131:154">Lạng Sơn còn là nơi thờ phụng nhiều vị Chầu Bà và Cô linh thiêng khác, đặc biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nơi các buổi hầu đồng thường xuyên được tổ chức.</p>
<h4 data-sourcepos="133:1-133:21">17. Đền Chầu Lục</h4>
<ul data-sourcepos="135:1-138:0">
<li data-sourcepos="135:1-135:72"><strong>Vị trí:</strong> Thôn Cốc Làng, xã Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="136:1-136:137"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Chầu Lục</strong> (Chầu Lục Cung Nương) – một vị Chầu Bà trong hệ thống Tứ Phủ Công Đồng, hầu cận Thánh Mẫu.</li>
<li data-sourcepos="137:1-138:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Chầu Lục nổi tiếng linh ứng, đặc biệt là với những người đi cầu tài, cầu lộc, cầu duyên. Chầu Lục được biết đến là vị thần ban phát của cải, may mắn trong kinh doanh và tình duyên. <strong>Đây là một trong những ngôi đền thường xuyên diễn ra nghi lễ hầu đồng để thỉnh Chầu Lục về ban lộc, ban phúc.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="139:1-139:44">18. Đền Chầu Bát (Đền Chầu Bát Bát Nàn)</h4>
<ul data-sourcepos="141:1-144:0">
<li data-sourcepos="141:1-141:96"><strong>Vị trí:</strong> Thôn Bát Nàn, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, gần khu vực Đền Bắc Lệ.</li>
<li data-sourcepos="142:1-142:179"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Chầu Bát</strong> (Chầu Bát Nàn Công Chúa) – vị Thánh Chầu Đệ Bát trong hàng Tứ Phủ, tương truyền là nữ tướng <strong>Vũ Thị Thục Nương</strong> thời Hai Bà Trưng.</li>
<li data-sourcepos="143:1-144:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Chầu Bát được biết đến là nơi linh ứng cho những lời cầu xin về <strong>tài lộc, công danh, buôn bán thuận lợi</strong> và sự bình an. Lễ hội tại Đền Chầu Bát thường thu hút đông đảo người hành hương, đặc biệt là những người làm ăn kinh doanh. <strong>Đền này cũng là một trong những địa điểm quan trọng để tổ chức nghi lễ hầu đồng.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="145:1-145:30">19. Đền Chầu Mười Đồng Mỏ</h4>
<ul data-sourcepos="147:1-150:0">
<li data-sourcepos="147:1-147:66"><strong>Vị trí:</strong> <strong>Thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.</strong></li>
<li data-sourcepos="148:1-148:208"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Chầu Mười Đồng Mỏ</strong> (Chầu Mười Đồng Mỏ Công Chúa) – vị Thánh Chầu thứ 10 trong hàng Thập Nhị Vị Chầu Bà, tương truyền là <strong>nữ tướng người Tày</strong> có công giúp vua Lê Thái Tổ.</li>
<li data-sourcepos="149:1-150:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Chầu Mười Đồng Mỏ rất được người dân địa phương và du khách thập phương tôn kính. Nơi đây linh ứng với những lời cầu nguyện về <strong>sự nghiệp ổn định, tài lộc liên quan đến đất đai</strong> và sự che chở trong công việc. <strong>Các buổi hầu đồng kính Chầu Mười Đồng Mỏ thường xuyên được tổ chức tại đền.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="151:1-151:32">20. Đền Cô Chín Thượng Ngàn</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683862262580f.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="153:1-159:0">
<li data-sourcepos="153:1-156:89"><strong>Vị trí:</strong> Có nhiều đền thờ Cô Chín Thượng Ngàn ở khu vực Tây Bắc và Lạng Sơn, trong đó có các địa điểm nổi bật như:<br>
<ul data-sourcepos="154:5-156:89">
<li data-sourcepos="155:5-155:72"><strong>Thôn Nà Lùng, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.</strong></li>
<li data-sourcepos="156:5-156:89"><strong>Chi Lăng, Lạng Sơn:</strong> (<span>Hoà Bình, Chi Lăng, Lạng Sơn</span>).</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="157:1-157:206"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Cô Chín Thượng Ngàn</strong> – một trong những vị Thánh Cô linh thiêng nhất trong hệ thống Tứ Phủ Công Đồng, hầu cận Mẫu Thượng Ngàn, được biết đến với tài chữa bệnh và xem bói.</li>
<li data-sourcepos="158:1-159:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Cô Chín Thượng Ngàn là điểm đến quen thuộc của những người muốn <strong>cầu duyên, cầu tự, và tìm kiếm sự chỉ dẫn tâm linh</strong> trong cuộc sống. <strong>Đây là một trong những đền quan trọng và phổ biến nhất để tổ chức các buổi hầu đồng, thỉnh Cô về ban lộc, ban tài, chỉ lối.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="160:1-160:30">21. Đền Chầu Năm Suối Lân</h4>
<ul data-sourcepos="162:1-165:0">
<li data-sourcepos="162:1-162:76"><strong>Vị trí:</strong> <strong>Thôn Suối Lân, xã Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.</strong></li>
<li data-sourcepos="163:1-163:197"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Chầu Năm Suối Lân</strong> (Chầu Năm Suối Lân Công Chúa) – vị Chầu Bà thứ 5 trong hàng Thánh Chầu, tương truyền là <strong>người Nùng</strong> có công trấn giữ rừng núi và giúp dân.</li>
<li data-sourcepos="164:1-165:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Chầu Năm Suối Lân linh ứng với những lời cầu nguyện về <strong>sức khỏe, bình an, đặc biệt là liên quan đến nguồn nước, mùa màng và sự tươi tốt của núi rừng</strong>. Ngôi đền cũng là nơi diễn ra các nghi lễ cầu mưa, cầu cho cây cối tốt tươi. <strong>Nơi đây cũng là địa điểm quen thuộc cho các buổi hầu đồng.</strong></li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="166:1-166:26">22. Đền Quan Giám Sát</h4>
<ul data-sourcepos="168:1-171:0">
<li data-sourcepos="168:1-168:77"><strong>Vị trí:</strong> <strong>Thôn Việt Thắng, xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.</strong></li>
<li data-sourcepos="169:1-169:208"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Quan Lớn Đệ Nhị</strong>, hay còn gọi là <strong>Quan Giám Sát</strong>, tượng trưng cho sự công minh, chính trực, có công giúp vua Hùng dẹp giặc. Đền cũng có thể phối thờ <strong>Hoàng Đình Kinh</strong>.</li>
<li data-sourcepos="170:1-171:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Quan Giám Sát được người dân tin rằng là nơi linh ứng để <strong>cầu công lý, sự minh bạch, và sự che chở cho những người làm ăn chân chính</strong>. Ngôi đền cũng được xem là nơi cầu nguyện cho sự nghiệp, công danh, và sự thăng tiến. <strong>Các buổi hầu đồng cũng được tổ chức tại đây để thỉnh Quan Lớn Giám Sát.</strong></li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="174:1-174:65">V. Các Đền và Chùa Cộng Đồng, Gắn Liền Với Văn Hóa Địa Phương</h3>
<p data-sourcepos="176:1-176:124">Những ngôi đền này có thể không quá nổi tiếng trên bản đồ du lịch lớn nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc với đời sống cộng đồng.</p>
<h4 data-sourcepos="178:1-178:21">23. Chùa Bắc Nga</h4>
<ul data-sourcepos="180:1-183:0">
<li data-sourcepos="180:1-180:55"><strong>Vị trí:</strong> Xã Bắc Nga, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="181:1-181:81"><strong>Vị thánh/Phật được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Bồ Tát</strong>.</li>
<li data-sourcepos="182:1-183:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Ngôi chùa này nằm ở một vị trí yên tĩnh, mang vẻ đẹp bình dị nhưng rất linh thiêng. Chùa Bắc Nga là nơi người dân địa phương thường xuyên lui tới để lễ Phật, cầu bình an, may mắn cho gia đình và cầu cho quốc thái dân an.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="184:1-184:19">24. Đền Nà Lộc</h4>
<ul data-sourcepos="186:1-189:0">
<li data-sourcepos="186:1-186:117"><strong>Vị trí:</strong> Xã Nà Lộc, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn (hoặc các vị trí khác tùy theo từng địa phương có đền Nà Lộc).</li>
<li data-sourcepos="187:1-187:140"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thường thờ các vị <strong>thần linh bản địa</strong>, có thể là Thành Hoàng làng, hoặc các vị thần có công với vùng đất đó.</li>
<li data-sourcepos="188:1-189:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Nà Lộc là một trong những ngôi đền nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng với cộng đồng dân cư địa phương. Đền linh ứng trong việc cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, và sự bình yên cho làng xã.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="190:1-190:22">25. Đền Phia Dạng</h4>
<ul data-sourcepos="192:1-195:0">
<li data-sourcepos="192:1-192:193"><strong>Vị trí:</strong> Có thể nằm trong khu vực núi Phia Dạng, thuộc địa bàn huyện Lộc Bình hoặc Cao Lộc, Lạng Sơn. (Thông tin cụ thể về vị trí và vị thánh thờ cúng của đền này không phổ biến rộng rãi).</li>
<li data-sourcepos="193:1-193:120"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Có thể là các vị <strong>thần núi, thần rừng</strong>, hoặc các vị thần cai quản nguồn nước, thời tiết.</li>
<li data-sourcepos="194:1-195:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Nằm trong khu vực núi cao, đền Phia Dạng thường được người dân địa phương tìm đến để cầu mong sự bình an, mùa màng tốt tươi, và tránh được các tai ương do thiên nhiên gây ra.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="196:1-196:21">26. Đền Long Đầu</h4>
<ul data-sourcepos="198:1-201:0">
<li data-sourcepos="198:1-198:90"><strong>Vị trí:</strong> Gần suối Long Đầu, trong khu vực núi Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="199:1-199:104"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Các vị <strong>thần núi, thần rừng</strong>, hoặc các vị thần liên quan đến nguồn nước.</li>
<li data-sourcepos="200:1-201:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Gắn liền với cảnh quan hùng vĩ của Mẫu Sơn và dòng suối Long Đầu trong lành, ngôi đền này được xem là nơi linh thiêng để cầu sức khỏe, sự tươi tốt cho cây cối, vật nuôi, và sự thịnh vượng cho người dân sống dựa vào núi rừng.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="202:1-202:23">27. Đền Bình Cương</h4>
<ul data-sourcepos="204:1-207:0">
<li data-sourcepos="204:1-204:70"><strong>Vị trí:</strong> Khu 4, thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.</li>
<li data-sourcepos="205:1-205:135"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thường thờ các vị <strong>Thành Hoàng làng</strong>, hoặc các vị thần linh có công khai khẩn đất đai, bảo vệ dân làng.</li>
<li data-sourcepos="206:1-207:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Bình Cương là một ngôi đền cổ kính, gắn liền với đời sống tâm linh của người dân Đình Lập. Đền linh ứng trong việc cầu bình an, may mắn cho cộng đồng, và sự phát triển của địa phương.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="208:1-208:23">28. Đền Thanh Lãng</h4>
<ul data-sourcepos="210:1-213:0">
<li data-sourcepos="210:1-210:105"><strong>Vị trí:</strong> Xã Thanh Lãng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn (hoặc một số địa danh khác có tên Thanh Lãng).</li>
<li data-sourcepos="211:1-211:113"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Có thể thờ các vị <strong>thần linh bản địa</strong>, hoặc các vị thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu.</li>
<li data-sourcepos="212:1-213:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Tương tự như các đền làng khác, Đền Thanh Lãng là nơi người dân cầu mong sức khỏe, bình an, mùa màng tốt tươi và sự gắn kết cộng đồng.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="214:1-214:20">29. Đền Xã Đoàn</h4>
<ul data-sourcepos="216:1-219:0">
<li data-sourcepos="216:1-216:96"><strong>Vị trí:</strong> Xã Xã Đoàn, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (hoặc các địa danh khác có tên Xã Đoàn).</li>
<li data-sourcepos="217:1-217:101"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thường là <strong>Thành Hoàng làng</strong> hoặc các vị thần có công với địa phương.</li>
<li data-sourcepos="218:1-219:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Xã Đoàn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân trong xã, nơi tổ chức các lễ hội truyền thống, cầu mong sự phù hộ của các vị thần linh cho cuộc sống yên bình, hạnh phúc và phát triển.</li>
</ul>
<h2 data-sourcepos="222:1-222:61">VI. Các Đền Thờ Thần Linh Đặc Trưng Trong Tín Ngưỡng Then</h2>
<h4 data-sourcepos="224:1-224:41">30. Đền Chúa Then</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683862401910e.jpg" alt="Đền Chúa Then tại lạng sơn" width="817" height="613" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em>Đền Chúa Then tại lạng sơn</em></p>
<ul data-sourcepos="226:1-229:0">
<li data-sourcepos="226:1-226:249"><strong>Vị trí:</strong> Có nhiều đền thờ Chúa Then ở Lạng Sơn, trong đó một địa điểm nổi bật là <strong>thôn Nà Lùng, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn</strong>. Ngoài ra, ở Bắc Giang cũng có đền Chúa Then nổi tiếng, thể hiện sự giao thoa văn hóa tín ngưỡng.</li>
<li data-sourcepos="227:1-227:166"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Bà Chúa Then</strong> hay còn gọi là <strong>Thiên Tổ Thánh Then</strong>, Chúa Then hay gọi là Chúa Thiên, là vị chúa tể của trời, vị thần linh tối cao trong tín ngưỡng Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái.</li>
<li data-sourcepos="228:1-229:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Chúa Then là nơi linh thiêng để thực hành các nghi lễ Then quan trọng như cầu an, cầu phúc, giải hạn, hay các nghi lễ chữa bệnh. Đây là loại hình văn hóa phi vật thể mang tính động, hàm chứa tính nhân văn cao, gắn liền với bản sắc của đồng bào Tày, Nùng.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="230:1-230:47">31. Đền Chúa Cà Phê.</h4>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683862c849d9b.jpg" alt="" width="751" height="1004" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em>Đền chúa Cà Phê ở Phố Vị, Hữu Lũng, Lạng Sơn</em></p>
<ul data-sourcepos="232:1-235:0">
<li data-sourcepos="232:1-232:141"><strong>Vị trí:</strong> Đền Chúa Cà Phê tọa lạc tại <strong>xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn</strong>. Ngôi đền nằm giữa một khu rừng hoang vu, yên tĩnh.</li>
<li data-sourcepos="233:1-233:213"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Thờ <strong>Bà Chúa Cà Phê</strong>, hay còn được gọi là <strong>Chúa Bói Thượng Ngàn</strong>, một tiên nữ được trời Phật phái xuống trần gian để cứu giúp dân chúng, Bà thường ban quyền bổ phép cho linh ghế của Bà, có lộc Xem bói, bốc thuốc chữa bệnh, xem tướng, xem tử vi đoán biết mọi việc.</li>
<li data-sourcepos="234:1-235:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Chúa Cà Phê vô cùng linh ứng với những lời cầu xin về việc <strong>xem bói, tìm hướng giải quyết khó khăn trong cuộc sống, cầu may mắn, tài lộc và bình an</strong>. Mặc dù đền nhỏ và ẩn mình trong núi, nhưng sự linh ứng đã khiến ngôi đền này trở thành điểm đến quen thuộc. Nơi đây cũng thường xuyên tổ chức nghi lễ hầu đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="236:1-236:39">32. Đền Đèo Kẻng (Sơn Lâm Linh Tự)</h4>
<ul data-sourcepos="238:1-241:0">
<li data-sourcepos="238:1-238:176"><strong>Vị trí:</strong> <strong>Thôn Vườn Chè, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn</strong>. Nằm trên một quả đồi bằng phẳng, cách thị trấn Hữu Lũng khoảng 10km và cách Đền Bắc Lệ khoảng 2km.</li>
<li data-sourcepos="239:1-239:219"><strong>Vị thánh được thờ cúng:</strong> Đền Đèo Kẻng có từ thời Hậu Lê, thờ chính là <strong>Mẫu Thượng Ngàn</strong>. Cụ thể, đền có 3 cung: Cung ngoài thờ quan Ngũ Hổ, cung giữa thờ Đức Vua cha (Ngọc Hoàng), và hậu cung thờ Mẫu Thượng Ngàn.</li>
<li data-sourcepos="240:1-241:0"><strong>Giá trị lịch sử và tâm linh:</strong> Đền Đèo Kẻng có mối liên hệ mật thiết với quần thể di tích Đền Bắc Lệ. Trong lễ hội chính của Đền Bắc Lệ, người dân thường tổ chức nghi thức <strong>rước kiệu Mẫu từ Đền Bắc Lệ sang Đền Đèo Kẻng để làm Lễ Đại Tế</strong>. Đền đã được UBND tỉnh Lạng Sơn xếp hạng là <strong>di tích cấp tỉnh vào năm 1992</strong>, khẳng định giá trị lịch sử của mình. <strong>Đây cũng là nơi thường xuyên diễn ra các buổi hầu đồng, đặc biệt trong các nghi lễ liên quan đến Mẫu Thượng Ngàn và chầu bản cảnh.</strong></li>
</ul>
<p data-sourcepos="242:1-242:270">Lạng Sơn thực sự là một "bảo tàng" sống về tín ngưỡng dân gian và tâm linh Việt Nam, với rất nhiều ngôi đền, chùa, miếu mạo khác nhau. Mỗi nơi đều mang một nét riêng và một câu chuyện lịch sử, tâm linh để kể, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của vùng đất biên cương này.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tiệc Thánh Tứ Phủ trong Tháng 11 Âm Lịch</title>
<link>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-11-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-11-am</guid>
<description><![CDATA[ Tháng 11 Âm lịch, khi tiết trời chuyển mình sang đông, mang theo không khí se lạnh và sự tĩnh lặng, cũng là thời điểm diễn ra nhiều ngày Tiệc Thánh quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ của người Việt. Đây là dịp để con nhang đệ tử bày tỏ lòng thành kính, tri ân và cầu nguyện chư vị Thánh Mẫu, Quan Lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng, Cô, Cậu đã ban phúc lành. Các ngày Tiệc Thánh trong tháng này thường gắn liền với những vị thần linh có công trạng lớn, hoặc cai quản những vùng đất thiêng liêng, mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa dân gian. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_683841cc88b92.jpg" length="175576" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 29 May 2025 18:15:51 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>Tiệc Thánh Tứ Phủ trong Tháng 11 Âm Lịch</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="7:1-7:537">Tháng 11 Âm lịch, khi tiết trời chuyển mình sang đông, mang theo không khí se lạnh và sự tĩnh lặng, cũng là thời điểm diễn ra nhiều ngày Tiệc Thánh quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ của người Việt. Đây là dịp để con nhang đệ tử bày tỏ lòng thành kính, tri ân và cầu nguyện chư vị Thánh Mẫu, Quan Lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng, Cô, Cậu đã ban phúc lành. Các ngày Tiệc Thánh trong tháng này thường gắn liền với những vị thần linh có công trạng lớn, hoặc cai quản những vùng đất thiêng liêng, mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa dân gian.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683841ccec3f0.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<table width="100%" border="1">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: center;"><strong>Ngày (Âm lịch)</strong></td>
<td style="text-align: center;"><strong>Sự kiện</strong></td>
</tr>
<tr>
<td>01/11 hoặc 10/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Suý Phù Ủng Đại Vương Phò Mã Phạm Ngũ Lão.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>02/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn – Đồi Ngang – Hữu Lũng.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>02/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Chầu Đệ Nhị thượng ngàn.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>06/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Đản Nhật Vua Cha Nhạc Phủ Tản Viên Sơn Thánh.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>10/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Chầu Mười Mỏ Ba – Đồng Mỏ – Hữu Lũng.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>10/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Cô Mười Mỏ Ba – Hữu Lũng – Lạng Sơn.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>11/11</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h3 data-sourcepos="9:1-9:56">Các Ngày Tiệc Lớn và Ý Nghĩa Trong Tháng 11 Âm Lịch:</h3>
<ul data-sourcepos="11:1-27:0">
<li data-sourcepos="11:1-13:0">
<p data-sourcepos="11:3-12:631"><strong>Ngày 01/11 hoặc 10/11 Âm lịch: Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Súy Phù Ủng Đại Vương Phò Mã Phạm Ngũ Lão</strong> Đây là ngày giỗ hoặc chính tiệc của <strong>Phò Mã Phạm Ngũ Lão</strong>, một danh tướng kiệt xuất dưới thời nhà Trần, người đã có công lớn trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, ông được suy tôn là <strong>Trần Triều Đức Ông</strong>, một vị Quan Lớn trong hệ thống Trần Triều hiển thánh, mang ý nghĩa về sự trung quân ái quốc, tài năng quân sự và lòng dũng cảm. Việc tổ chức Tiệc này không chỉ là tưởng nhớ một vị anh hùng dân tộc mà còn là dịp để cầu an, cầu lộc, đặc biệt là cầu công danh sự nghiệp, sự vững chãi trong cuộc sống. Tùy theo vùng miền và truyền thống, ngày tiệc có thể rơi vào mùng 1 hoặc mùng 10.</p>
</li>
<li data-sourcepos="14:1-16:0">
<p data-sourcepos="14:3-15:648"><strong>Ngày 02/11 Âm lịch: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn – Đồi Ngang – Hữu Lũng và Tiệc Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn</strong> Ngày mùng 2 tháng 11 Âm lịch là ngày kỷ niệm <strong>Đản Nhật (ngày sinh)</strong> của <strong>Quan Lớn Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn</strong>. Đây là một trong những vị Quan Lớn trọng yếu cai quản miền rừng núi, có quyền năng giám sát và phù hộ cho muôn loài, mang lại sự bình yên, no ấm cho người dân sống nơi sơn cước. Cùng ngày, <strong>Tiệc Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn</strong> cũng được tổ chức để tôn vinh vị Chầu Bà cai quản miền rừng, thường gắn liền với sự linh thiêng của thiên nhiên, cây cối, và ban phát tài nguyên từ núi rừng. Các lễ Tiệc này thường được tổ chức lớn tại những địa danh có rừng núi thiêng liêng như <strong>Đồi Ngang, Hữu Lũng</strong> (Lạng Sơn), nơi có đền thờ các ngài.</p>
</li>
<li data-sourcepos="17:1-19:0">
<p data-sourcepos="17:3-18:481"><strong>Ngày 06/11 Âm lịch: Tiệc Đản Nhật Vua Cha Nhạc Phủ Tản Viên Sơn Thánh</strong> Ngày mùng 6 tháng 11 Âm lịch là ngày Đản Nhật của <strong>Vua Cha Nhạc Phủ Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh)</strong>. Ông là một trong Tứ Bất Tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, được thờ phụng như vị thần núi thiêng liêng, cai quản vùng núi Ba Vì. Tiệc Vua Cha Tản Viên Sơn Thánh mang ý nghĩa cầu mong sự bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và cuộc sống ấm no cho nhân dân. Đây cũng là dịp để bày tỏ lòng biết ơn đối với vị thần đã bảo vệ đất nước và mang lại sự sống cho muôn loài.</p>
</li>
<li data-sourcepos="20:1-24:0">
<p data-sourcepos="20:3-21:104"><strong>Ngày 10/11 Âm lịch: Tiệc Chầu Mười Mỏ Ba – Đồng Mỏ – Hữu Lũng và Tiệc Cô Mười Mỏ Ba – Hữu Lũng – Lạng Sơn</strong> Ngày mùng 10 tháng 11 Âm lịch tập trung vào các vị Thánh tại <strong>Mỏ Ba, Đồng Mỏ, Hữu Lũng, Lạng Sơn</strong>.</p>
<ul data-sourcepos="22:5-24:0">
<li data-sourcepos="22:5-22:200"><strong>Tiệc Chầu Mười Mỏ Ba</strong> là dịp kính nhớ Chầu Mười, một trong những vị Chầu Bà nổi tiếng linh thiêng, thường được gắn liền với sự giàu có, thịnh vượng từ các mỏ khoáng sản hoặc vùng đất trù phú.</li>
<li data-sourcepos="23:5-24:0"><strong>Tiệc Cô Mười Mỏ Ba</strong> là ngày tiệc của Cô Mười, một vị Cô trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, cũng gắn với vùng đất Mỏ Ba. Cô Mười thường được cầu về tài lộc, sự sung túc và may mắn trong công việc kinh doanh, buôn bán. Các lễ Tiệc này thường diễn ra rất sôi động tại khu vực <strong>Hữu Lũng, Lạng Sơn</strong>, nơi có đền thờ các ngài.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="25:1-27:0">
<p data-sourcepos="25:3-26:374"><strong>Ngày 11/11 Âm lịch: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn</strong> Mặc dù ngày Đản Nhật chính thức của Quan Lớn Giám Sát Đệ Nhị Thượng Ngàn là mùng 2 tháng 11, nhưng ở một số nơi, ngày mùng 11 cũng được coi là một ngày kỷ niệm quan trọng hoặc ngày tiệc lớn để bày tỏ lòng thành kính đối với ngài. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong thực hành tín ngưỡng và lòng tôn kính sâu sắc của cộng đồng đối với vị Quan Lớn cai quản miền rừng núi.</p>
</li>
</ul>
<p data-sourcepos="30:1-30:308">Tháng 11 Âm lịch với các Tiệc Thánh Tứ Phủ kể trên không chỉ là những nghi lễ tôn giáo mà còn là những lễ hội văn hóa giàu bản sắc, thể hiện sự đa dạng và phong phú của tín ngưỡng thờ Mẫu. Đây là dịp để cộng đồng cùng nhau tụ họp, dâng hương, cầu nguyện và gìn giữ những giá trị tâm linh quý báu của dân tộc.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tiệc Thánh tứ phủ trong tháng 9 âm lịch</title>
<link>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-9-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-9-am</guid>
<description><![CDATA[ Tháng 9 Âm lịch là thời điểm quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ của người Việt, với nhiều ngày Tiệc Thánh lớn được tổ chức khắp các đền, phủ. Dưới đây là lịch Tiệc Thánh chi tiết trong tháng 9 Âm lịch, cùng với ý nghĩa đặc trưng của từng ngày lễ: ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_68383e18947c5.jpg" length="146277" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 29 May 2025 18:00:22 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>Tiệc Thánh tứ phủ trong tháng 9 âm lịch</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="1:1-1:254">Tháng 9 Âm lịch là thời điểm quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ của người Việt, với nhiều ngày Tiệc Thánh lớn được tổ chức khắp các đền, phủ. Dưới đây là lịch Tiệc Thánh chi tiết trong tháng 9 Âm lịch, cùng với ý nghĩa đặc trưng của từng ngày lễ:</p>
<h2 data-sourcepos="5:1-5:47">Lịch Tiệc Thánh Tứ Phủ Trong Tháng 9 Âm Lịch</h2>
<table width="100%" border="1">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: center;"><strong>Ngày Âm Lịch</strong></td>
<td style="text-align: center;"><strong>Tên Tiệc Thánh</strong></td>
<td style="text-align: center;"><strong>Địa điểm liên quan (nếu có)</strong></td>
<td style="text-align: center;"><strong>Ý nghĩa chính</strong></td>
</tr>
<tr>
<td>02/09</td>
<td>Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị</td>
<td>Phố Vị, Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Kính nhớ Cô Bé Suối Ngang, vị thánh cô linh thiêng, thường được cầu tài lộc, đặc biệt trong kinh doanh, buôn bán.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>04/09</td>
<td>Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ</td>
<td>Đền Tổ Mẫu Âu Cơ, Phú Thọ &amp; các đền thờ khác</td>
<td>
<div>
<div>Ngày tưởng nhớ Quốc Mẫu Âu Cơ, người mẹ huyền thoại của dân tộc Việt Nam, biểu tượng cội nguồn và lòng biết ơn "uống nước nhớ nguồn".</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>09/09</td>
<td>Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu</td>
<td>Các đền, phủ thờ Mẫu</td>
<td>
<div>
<div>Kính nhớ Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu, vị Mẫu tối cao cai quản cõi Trời, biểu tượng của sự linh thiêng và quyền năng.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>09/09</td>
<td>Tiệc Vương Nữ Nhân Tông Hoàng Hậu</td>
<td>Các đền thờ Hoàng Hậu, di tích lịch sử</td>
<td>
<div>
<div>Tưởng nhớ Vương Nữ Nhân Tông Hoàng Hậu, một nhân vật lịch sử được tôn vinh hoặc có công lao lớn, được thờ phụng trong tín ngưỡng.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>09/09</td>
<td>Tiệc Ông Chín Thượng</td>
<td>Các đền, phủ thờ Quan Hoàng Chín</td>
<td>
<div>
<div>Kính nhớ Quan Hoàng Chín, vị quan lớn linh thiêng trong Tứ Phủ, thường được cầu về tài lộc, công danh, sự nghiệp thăng tiến.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>09/09</td>
<td>Tiệc Chầu Chín Cửu Tỉnh</td>
<td>Các đền, phủ thờ Chầu Chín</td>
<td>
<div>
<div>Tri ân Chầu Chín, vị chầu bà linh thiêng, thường được thờ phụng tại nhiều vùng miền, đặc biệt là những nơi mang ý nghĩa liên quan đến số 9 (cửu).</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>09/09</td>
<td>Tiệc Cô Chín Giếng Sòng Sơn Linh Từ</td>
<td>Đền chín giếng, Thanh Hóa</td>
<td>
<div>
<div>Chính Tiệc Cô Chín Giếng, một trong Tứ Phủ Thánh Cô nổi tiếng linh thiêng, được tin là ban phước lành về sức khỏe, công danh, và chữa bệnh.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>13/9</td>
<td>Tiệc Cô Đôi Cam Đường</td>
<td>Cam Đường, Lào Cai</td>
<td>
<div>
<div>Tưởng nhớ và tri ân Cô Đôi Cam Đường, vị Cô linh thiêng phù hộ cho việc đi lại, buôn bán và mang lại may mắn.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>19/9</td>
<td>Tiệc Cô Chín Đền Sòng Sơn – Thanh Hóa</td>
<td>Đền Sòng Sơn, Thanh Hóa</td>
<td>
<div>
<div>Ngày chính tiệc của Cô Chín, thu hút hàng vạn tín đồ đến dâng hương, cầu nguyện và tham gia các nghi thức hầu đồng tại một trong những ngôi đền linh thiêng bậc nhất.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>20/9</td>
<td>Tiệc Công Đồng Bắc Lệ – Lạng Sơn</td>
<td>Đền Bắc Lệ, Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Lễ hội lớn tại Đền Bắc Lệ, nơi thờ Công Đồng Tam Tứ Phủ, với các nghi lễ quy mô, cầu an, cầu lộc cho cộng đồng.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>20/9</td>
<td>Tiệc Chầu Bé Bắc Lệ – Lạng Sơn</td>
<td>Đền Bắc Lệ, Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Chính tiệc của Chầu Bé Bắc Lệ, vị chầu bà linh thiêng được thờ phụng tại Đền Bắc Lệ, ban phước lành và may mắn.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>28/9</td>
<td>Tiệc Vương Phi Thiên Thành Công Chúa Truy Phong Nguyên Từ Quốc Mẫu</td>
<td>Các đền thờ Mẫu, di tích lịch sử</td>
<td>
<div>
<div>Tưởng nhớ vị Vương Phi được truy phong Nguyên Từ Quốc Mẫu, thể hiện sự tôn vinh đối với những người phụ nữ có công lao lớn và được thần thánh hóa trong tín ngưỡng.</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68383e18bd5b2.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="7:1-7:332">Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, mỗi vị Thánh Mẫu, Quan Lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng, Cô, Cậu đều có ngày giỗ, ngày tiệc riêng, được con nhang đệ tử kính cẩn tổ chức để tri ân và cầu mong sự phù hộ. Tháng 9 Âm lịch là một trong những tháng có nhiều ngày tiệc lớn, đặc biệt là những ngày liên quan đến các Cô, các Chầu và các vị Mẫu linh thiêng.</p>
<h3 data-sourcepos="9:1-9:44">Các Ngày Tiệc Lớn Trong Tháng 9 Âm Lịch:</h3>
<ul data-sourcepos="11:1-38:0">
<li data-sourcepos="11:1-13:0">
<p data-sourcepos="11:3-12:256"><strong>Ngày 02/9 Âm lịch: Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị Lạng Sơn</strong> Đây là ngày tiệc kính nhớ Cô Bé Suối Ngang, một vị cô trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, được thờ phụng tại Phố Vị, Lạng Sơn. Cô Bé Suối Ngang được biết đến với sự linh thiêng, phù hộ cho việc cầu tài, cầu lộc, đặc biệt là trong công việc kinh doanh buôn bán.</p>
</li>
<li data-sourcepos="14:1-16:0">
<p data-sourcepos="14:3-15:231"><strong>Ngày 04/9 Âm lịch: Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ</strong> Ngày này là dịp để con cháu Rồng Tiên tưởng nhớ Quốc Mẫu Âu Cơ, người Mẹ huyền thoại của dân tộc Việt Nam. Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ mang ý nghĩa sâu sắc về cội nguồn, nhắc nhở con cháu về tình đoàn kết, đạo lý "uống nước nhớ nguồn".</p>
</li>
<li data-sourcepos="17:1-24:0">
<p data-sourcepos="17:3-18:108"><strong>Ngày 09/9 Âm lịch: Chuỗi Các Tiệc Lớn</strong> Ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch là một ngày đặc biệt với nhiều Tiệc Thánh quan trọng được tổ chức đồng loạt:</p>
<ul data-sourcepos="19:5-24:0">
<li data-sourcepos="19:5-19:200"><strong>Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu:</strong> Lễ này được tổ chức để kính nhớ Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu, một vị Mẫu tối cao cai quản cõi Trời, biểu tượng cho sự linh thiêng và quyền năng vô hạn.</li>
<li data-sourcepos="20:5-20:161"><strong>Tiệc Vương Nữ Nhân Tông Hoàng Hậu:</strong> Tưởng nhớ Vương Nữ Nhân Tông Hoàng Hậu, một nhân vật lịch sử có công lao hoặc được suy tôn trong tín ngưỡng thờ Mẫu.</li>
<li data-sourcepos="21:5-21:246"><strong>Tiệc Ông Chín Thượng:</strong> Kính nhớ Quan Hoàng Chín, một vị quan lớn trong hàng Tứ Phủ Quan Hoàng, thường được thờ phụng ở các vùng thượng nguồn, sông nước. Ông Chín Thượng được cho là vị thần tài, phù hộ cho sự nghiệp thăng tiến và tài lộc.</li>
<li data-sourcepos="22:5-22:211"><strong>Tiệc Chầu Chín Cửu Tỉnh:</strong> Dành để tri ân Chầu Chín, một vị chầu bà linh thiêng được thờ phụng ở nhiều nơi, đặc biệt là gắn liền với các vùng đất có 9 tỉnh thành hoặc mang ý nghĩa số 9 may mắn, viên mãn.</li>
<li data-sourcepos="23:5-24:0"><strong>Tiệc Cô Chín Giếng Sòng Sơn Linh Từ:</strong> Đây là một trong những Tiệc Cô nổi tiếng nhất trong tháng 9, tập trung tại Đền Sòng Sơn (Thanh Hóa). Cô Chín Giếng là một trong Tứ Phủ Thánh Cô, nổi tiếng linh thiêng, ban phước lành về sức khỏe, công danh và đặc biệt là chữa bệnh.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="25:1-27:0">
<p data-sourcepos="25:3-26:270"><strong>Ngày 13/9 Âm lịch: Tiệc Cô Đôi Cam Đường</strong> Tiệc Cô Đôi Cam Đường là dịp để tưởng nhớ và tri ân Cô Đôi Cam Đường, một vị Cô linh thiêng thường được thờ phụng ở vùng Cam Đường (thuộc tỉnh Lào Cai). Cô Đôi Cam Đường được tin là sẽ phù hộ cho việc đi lại, buôn bán, và mang lại may mắn cho những người hành hương.</p>
</li>
<li data-sourcepos="28:1-30:0">
<p data-sourcepos="28:3-29:266"><strong>Ngày 19/9 Âm lịch: Tiệc Cô Chín Đền Sòng Sơn – Thanh Hóa</strong> Ngày này là ngày chính tiệc của Cô Chín Đền Sòng Sơn, một trong những vị Cô có đền thờ nổi tiếng và linh thiêng bậc nhất. Lễ hội tại Đền Sòng Sơn vào ngày này thu hút hàng vạn tín đồ từ khắp nơi đổ về để dâng hương, cầu nguyện và tham gia các nghi thức hầu đồng.</p>
</li>
<li data-sourcepos="31:1-35:0">
<p data-sourcepos="31:3-32:126"><strong>Ngày 20/9 Âm lịch: Tiệc Công Đồng Bắc Lệ – Lạng Sơn và Tiệc Chầu Bé Bắc Lệ – Lạng Sơn</strong> Ngày 20/9 là một ngày lễ lớn tại Đền Bắc Lệ, Lạng Sơn – một trong những trung tâm thờ Mẫu lớn và linh thiêng nhất cả nước.</p>
<ul data-sourcepos="33:5-35:0">
<li data-sourcepos="33:5-33:245"><strong>Tiệc Công Đồng Bắc Lệ:</strong> Đây là ngày tiệc chung của toàn bộ quần thể Đền Bắc Lệ, nơi thờ tự các vị Công Đồng Tam Tứ Phủ. Lễ hội diễn ra rất quy mô, thu hút đông đảo du khách và con nhang đệ tử, với nhiều nghi lễ truyền thống và hầu đồng.</li>
<li data-sourcepos="34:5-35:0"><strong>Tiệc Chầu Bé Bắc Lệ:</strong> Song song với Tiệc Công Đồng, ngày này cũng là chính tiệc của Chầu Bé Bắc Lệ, một trong những vị Chầu Bà được thờ phụng tại Đền Bắc Lệ, nổi tiếng linh thiêng và ban phước lành cho những người có lòng thành.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="36:1-38:0">
<p data-sourcepos="36:3-37:252"><strong>Ngày 28/9 Âm lịch: Tiệc Vương Phi Thiên Thành Công Chúa Truy Phong Nguyên Từ Quốc Mẫu</strong> Ngày cuối cùng của tháng 9 Âm lịch là dịp tưởng nhớ một vị Vương Phi được truy phong là Nguyên Từ Quốc Mẫu, thể hiện sự tôn vinh của tín ngưỡng đối với những người phụ nữ có công lao lớn, được thần thánh hóa và thờ phụng như một vị Mẫu linh thiêng.</p>
</li>
</ul>
<p data-sourcepos="41:1-41:295">Những ngày Tiệc Thánh trong tháng 9 Âm lịch không chỉ là dịp để con nhang đệ tử bày tỏ lòng thành kính, tri ân mà còn là cơ hội để tìm về cội nguồn tâm linh, cầu mong sự bình an, may mắn cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Đây là những nét đẹp văn hóa truyền thống cần được gìn giữ và phát huy.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tiệc thánh tứ phủ trong tháng 8 âm lịch</title>
<link>https://tuvidonga.com/tiec-thanh-thang-8-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tiec-thanh-thang-8-am</guid>
<description><![CDATA[ &quot;Tháng Ba tiệc Mẫu, Tháng Tám tiệc Cha&quot;. Nếu tháng Ba âm lịch là dịp cả nước hướng về Lễ hội Phủ Dầy, tưởng nhớ Đức Quốc Mẫu Liễu Hạnh – biểu tượng của sự sinh sôi, lòng từ bi vô lượng, thì tháng Tám âm lịch lại là thời điểm trang trọng dành cho các vị &quot;Cha&quot; – những Đức Vua Cha và đặc biệt là Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương, những người có công lao hiển hách trong việc dựng nước, giữ nước, mang lại sự bình yên và thịnh vượng cho dân tộc. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_683451e7b0627.jpg" length="151325" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Mon, 26 May 2025 18:35:31 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>tiệc tứ phủ tháng 8</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="9:1-9:724">Trong dòng chảy của tín ngưỡng <strong>thờ Mẫu Tứ Phủ</strong> của người Việt, mỗi tháng âm lịch đều mang một ý nghĩa tâm linh riêng, gắn liền với các vị thánh, thần. Tuy nhiên, có một câu nói dân gian đã đúc kết rất tinh tế về những cột mốc quan trọng bậc nhất: <strong>"Tháng Ba tiệc Mẫu, Tháng Tám tiệc Cha"</strong>. Nếu tháng Ba âm lịch là dịp cả nước hướng về Lễ hội Phủ Dầy, tưởng nhớ Đức Quốc Mẫu Liễu Hạnh – biểu tượng của sự sinh sôi, lòng từ bi vô lượng, thì <strong>tháng Tám âm lịch lại là thời điểm trang trọng dành cho các vị "Cha" – những Đức Vua Cha và đặc biệt là Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương</strong>, những người có công lao hiển hách trong việc dựng nước, giữ nước, mang lại sự bình yên và thịnh vượng cho dân tộc.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683451e7cef4a.jpg" alt="" width="804" height="536" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="11:1-11:354">Tháng Tám âm lịch là một trong những tháng đặc biệt và quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ của người Việt, với hàng loạt các ngày tiệc thánh diễn ra tại khắp các đền, phủ, điện thờ. Đây không chỉ là dịp để con nhang đệ tử bày tỏ lòng thành kính, mà còn là cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa và ý nghĩa tâm linh của từng vị thánh, thần.</p>
<h3 data-sourcepos="15:1-15:49">Tiệc Thánh Quan Trọng trong Tháng Tám Âm Lịch</h3>
<table width="100%" border="1">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: center;"><span style="color: #e67e23;"><strong>Ngày Âm Lịch</strong></span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="color: #e67e23;"><strong>Tên Tiệc Thánh</strong></span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="color: #e67e23;"><strong>Địa Điểm (Nếu có)</strong></span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="color: #e67e23;"><strong>Ý Nghĩa Chính</strong></span></td>
</tr>
<tr>
<td>03/08</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Trần Triều Vương Tử Đệ Nhị Hưng Hiến Đại Vương</td>
<td>Các đền, phủ thờ Hưng Hiến Đại Vương</td>
<td>
<div>
<div>Tưởng nhớ và tri ân Hưng Hiến Đại Vương, vị vương tử có công lớn dưới thời Trần.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>06/08</td>
<td>Tiệc Mẫu Đền Ghềnh Nguyên Phi Ỷ Lan (Ngọc Hân Công Chúa)</td>
<td>Đền Ghềnh</td>
<td>
<div>
<div>Kỷ niệm và tri ân Nguyên Phi Ỷ Lan, vị nữ lưu tài giỏi có công phò tá vua Lý. (Lưu ý: Ngọc Hân Công Chúa là nhân vật khác, thường gắn với lịch sử nhà Lê và Tây Sơn).</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>10/8</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Quan Hoàng Lục An Biên Tướng Quân</td>
<td>Các đền, phủ thờ Quan Hoàng Lục</td>
<td>
<div>
<div>Cầu mong sự bình an, may mắn, tài lộc từ Quan Hoàng Lục, một trong các vị quan Hoàng trong Tứ Phủ.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>15/8</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Giáng Sinh Chầu Bát Đông Nhung Đại Tướng Quân</td>
<td>Đền Ỷ La - Thái Bình</td>
<td>
<div>
<div>Dâng hương, lễ vật, cầu mong sự che chở, phù hộ của Chầu Bát Đông Nhung Đại Tướng Quân.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>20/8</td>
<td>Tiệc Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn</td>
<td>Kiếp Bạc – Hải Dương</td>
<td>
<div>
<div>Lễ hội lớn nhất trong tháng Tám, tưởng nhớ công ơn vĩ đại của Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương – vị anh hùng dân tộc, cầu cho quốc thái dân an, thịnh vượng.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>21/8</td>
<td>Tiệc Mẫu Nhà Trần</td>
<td>Các đền, phủ thờ nhà Trần</td>
<td>
<div>
<div>Tri ân và tưởng nhớ các vị Mẫu trong dòng tộc nhà Trần, những người đã có công xây dựng và bảo vệ đất nước.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>22/8</td>
<td>Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình</td>
<td>Đền Đồng Bằng Linh Từ – Thái Bình</td>
<td>
<div>
<div>Cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng từ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, vị thần cai quản biển cả.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>22/8</td>
<td>Tiệc Quan Lớn Điều Thất Đào Tiên</td>
<td>Các đền, phủ thờ Quan Lớn Điều Thất</td>
<td>
<div>
<div>Cầu tài, cầu lộc, cầu cho công việc hanh thông, thuận lợi từ Quan Lớn Điều Thất.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>24/8</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhất</td>
<td>Các đền, phủ thờ Quan Lớn Đệ Nhất</td>
<td>
<div>
<div>Thể hiện sự tôn kính và ngưỡng mộ đối với Quan Lớn Đệ Nhất, vị quan lớn đứng đầu trong hệ thống Tứ Phủ.</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p data-sourcepos="17:1-17:206">Tháng Tám âm lịch quy tụ nhiều ngày tiệc lớn, mang ý nghĩa đặc biệt đối với từng vị thánh trong hệ thống Tứ Phủ, thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với các vị "Cha" và những nhân vật lịch sử có công lao to lớn:</p>
<ul data-sourcepos="19:1-45:0">
<li data-sourcepos="19:1-21:0">
<p data-sourcepos="19:3-20:242"><strong>Ngày 03/8 (âm lịch): Tiệc Đản Nhật Trần Triều Vương Tử Đệ Nhị Hưng Hiến Đại Vương</strong> Đây là ngày kỷ niệm Đản nhật của <strong>Hưng Hiến Đại Vương</strong>, một vị vương tử có công lao to lớn trong lịch sử nhà Trần. Ngài được thờ phụng tại nhiều đền, phủ, thể hiện lòng biết ơn của dân chúng đối với những đóng góp của ngài cho đất nước.</p>
</li>
<li data-sourcepos="22:1-24:0">
<p data-sourcepos="22:3-23:640"><strong>Ngày 06/8 (âm lịch): Tiệc Mẫu Đền Ghềnh Nguyên Phi Ỷ Lan (Ngọc Hân Công Chúa)</strong> Ngày này tưởng nhớ <strong>Nguyên Phi Ỷ Lan</strong>, một nhân vật lịch sử lỗi lạc, có công phò tá vua Lý và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Đại Việt. Việc thờ phụng bà không chỉ thể hiện lòng kính trọng đối với bậc nữ lưu tài giỏi mà còn là biểu tượng của sự linh thiêng, quyền năng của các vị Mẫu. Mặc dù chú thích có ghi "Ngọc Hân Công Chúa", cần lưu ý rằng Nguyên Phi Ỷ Lan và Ngọc Hân Công Chúa là hai nhân vật hoàn toàn khác nhau trong lịch sử. Nguyên Phi Ỷ Lan sống ở thời Lý, còn Ngọc Hân Công Chúa là con gái vua Lê Hiển Tông, vợ của Quang Trung Nguyễn Huệ, sống ở thế kỷ 18. Tiệc Mẫu Đền Ghềnh thường gắn liền với Nguyên Phi Ỷ Lan.</p>
</li>
<li data-sourcepos="25:1-27:0">
<p data-sourcepos="25:3-26:215"><strong>Ngày 10/8 (âm lịch): Tiệc Đản Nhật Quan Hoàng Lục An Biên Tướng Quân</strong> <strong>Quan Hoàng Lục</strong> là một trong các vị quan Hoàng trong hệ thống Tứ Phủ, thường được biết đến với sự oai phong, lẫm liệt. Tiệc Đản nhật của ngài là dịp để con nhang đệ tử cầu mong sự bình an, may mắn và tài lộc.</p>
</li>
<li data-sourcepos="28:1-30:0">
<p data-sourcepos="28:3-29:230"><strong>Ngày 15/8 (âm lịch): Tiệc Đản Nhật Giáng Sinh Chầu Bát Đông Nhung Đại Tướng Quân (Đền Ỷ La - Thái Bình)</strong> <strong>Chầu Bát Đông Nhung Đại Tướng Quân</strong> là một vị Chầu Bà nổi tiếng, được thờ phụng ở nhiều nơi, đặc biệt là tại Đền Ỷ La (Thái Bình). Tiệc giáng sinh của Chầu là dịp để dâng hương, lễ vật, cầu mong sự che chở, phù hộ của Chầu.</p>
</li>
<li data-sourcepos="31:1-33:0">
<p data-sourcepos="31:3-32:395"><strong>Ngày 20/8 (âm lịch): Tiệc Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – Kiếp Bạc – Hải Dương</strong> Đây là một trong những ngày tiệc lớn nhất và quan trọng nhất trong tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và văn hóa tâm linh người Việt nói chung. <strong>Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn</strong> là vị anh hùng dân tộc vĩ đại, được tôn thờ như một vị thần. Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) diễn ra vào dịp này thu hút hàng triệu du khách và tín đồ từ khắp nơi về chiêm bái, tưởng nhớ công ơn của ngài.</p>
</li>
<li data-sourcepos="34:1-36:0">
<p data-sourcepos="34:3-35:289"><strong>Ngày 21/8 (âm lịch): Tiệc Mẫu Nhà Trần</strong> Ngày này tưởng nhớ và tri ân các vị <strong>Mẫu trong dòng tộc nhà Trần</strong>, những người đã có công lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiệc Mẫu Nhà Trần thường diễn ra sau tiệc Đức Thánh Trần, thể hiện sự liền mạch trong tín ngưỡng thờ phụng các vị thần linh có công với dân với nước.</p>
</li>
<li data-sourcepos="37:1-39:0">
<p data-sourcepos="37:3-38:258"><strong>Ngày 22/8 (âm lịch): Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Đền Đồng Bằng Linh Từ – Thái Bình</strong> <strong>Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình</strong> là một trong những vị thần linh tối cao trong Tứ Phủ, cai quản vùng biển cả. Đền Đồng Bằng (Thái Bình) là trung tâm thờ phụng ngài. Ngày tiệc này là dịp để cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng.</p>
</li>
<li data-sourcepos="40:1-42:0">
<p data-sourcepos="40:3-41:221"><strong>Ngày 22/8 (âm lịch): Tiệc Quan Lớn Điều Thất Đào Tiên</strong> <strong>Quan Lớn Điều Thất</strong> là một vị quan lớn trong hệ thống Tứ Phủ, thường được biết đến với sự linh thiêng và khả năng ban phát tài lộc. Tiệc của ngài là dịp để cầu tài, cầu lộc, cầu cho công việc hanh thông, thuận lợi.</p>
</li>
<li data-sourcepos="43:1-45:0">
<p data-sourcepos="43:3-44:201"><strong>Ngày 24/8 (âm lịch): Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhất</strong> <strong>Quan Lớn Đệ Nhất</strong> là vị quan lớn đứng đầu trong hệ thống Tứ Phủ. Tiệc Đản nhật của ngài là một trong những ngày lễ trọng, thể hiện sự tôn kính và ngưỡng mộ đối với vị quan uy quyền, linh thiêng.</p>
</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="48:1-48:59">Ý Nghĩa Sâu Sắc của Tiệc Thánh Tứ Phủ Tháng Tám Âm Lịch</h3>
<p data-sourcepos="50:1-50:143">Tháng Tám âm lịch với những ngày tiệc thánh dày đặc không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc:</p>
<ul data-sourcepos="52:1-56:0">
<li data-sourcepos="52:1-52:178"><strong>Tri ân và Tưởng nhớ:</strong> Các ngày tiệc là dịp để con nhang đệ tử bày tỏ lòng thành kính, tri ân công đức của các vị thánh, thần đã có công lao to lớn với đất nước, với dân tộc.</li>
<li data-sourcepos="53:1-53:204"><strong>Cầu an và Ban phước:</strong> Thông qua các nghi lễ cúng bái, dâng hương, con nhang đệ tử cầu mong sự phù hộ, che chở của các vị thánh để có được sức khỏe, bình an, may mắn, tài lộc cho bản thân và gia đình.</li>
<li data-sourcepos="54:1-54:294"><strong>Bảo tồn và Phát huy Văn hóa:</strong> Các buổi tiệc thánh góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đây là nơi giao lưu, gặp gỡ của cộng đồng, nơi những câu chuyện, truyền thuyết về các vị thánh được truyền từ đời này sang đời khác.</li>
<li data-sourcepos="55:1-56:0"><strong>Giáo dục Đạo lý:</strong> Những câu chuyện về công đức, sự hy sinh của các vị thánh, thần không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn là bài học về đạo lý làm người, về tinh thần yêu nước, thương dân.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="59:1-59:12">Kết Luận</h3>
<p data-sourcepos="61:1-61:607">"Tháng Ba tiệc Mẫu, Tháng Tám tiệc Cha" – câu nói giản dị mà gói trọn triết lý âm dương hòa hợp, cho thấy sự cân bằng và đầy đủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ của người Việt. Tháng Tám âm lịch thực sự là một tháng thiêng liêng và ý nghĩa, đặc biệt là dịp để tưởng nhớ và tri ân các vị "Cha" cùng những vị thần linh có công dựng nước, giữ nước. Các ngày tiệc thánh không chỉ là những lễ hội truyền thống mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, là nơi thể hiện lòng thành kính của con người đối với các đấng linh thiêng, đồng thời gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tâm linh tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tiệc Thánh tứ phủ trong tháng 7 âm lịch</title>
<link>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-7-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-7-am</guid>
<description><![CDATA[ Tháng Bảy âm lịch, hay còn gọi là tháng Vu Lan, không chỉ là mùa của sự báo hiếu mà còn là thời điểm linh thiêng với hàng loạt các nghi lễ, tiệc thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ. Đây là dịp để con dân hướng về cội nguồn, tri ân công đức của các vị thần linh, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Dưới đây là bài viết chuyên sâu về các tiệc thánh Tứ Phủ nổi bật trong tháng 7 âm lịch, dựa trên danh sách bạn cung cấp: ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_6833dbff478ea.jpg" length="105504" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Mon, 26 May 2025 10:12:34 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>tiệc thánh tháng 7</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Tháng 7 âm lịch, hay còn gọi là tháng Vu Lan, không chỉ là mùa của sự báo hiếu mà còn là thời điểm linh thiêng với hàng loạt các nghi lễ, tiệc thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ. Đây là dịp để con dân hướng về cội nguồn, tri ân công đức của các vị thần linh, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Dưới đây là bài viết chuyên sâu về các tiệc thánh Tứ Phủ nổi bật trong tháng 7 âm lịch, dựa trên danh sách bạn cung cấp:</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6833dbff6a1a9.jpg" alt="" width="837" height="837" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<h2 data-sourcepos="7:1-7:42">Đại Lễ Tán Hạ (Ngày 1 đến 29/7 âm lịch)</h2>
<p data-sourcepos="9:1-9:470">Đại Lễ Tán Hạ, kéo dài gần trọn tháng 7 âm lịch, là một trong những nghi lễ quan trọng trong đạo Mẫu, đặc biệt là trong các điện thờ, phủ. Đây là lễ cúng để tạ ơn các vị thần linh đã che chở, ban phước lành trong suốt một năm. Tán Hạ cũng mang ý nghĩa tạ lỗi những điều chưa chu toàn, cầu mong sự tha thứ và tiếp tục được phù hộ độ trì. Trong suốt tháng này, nhiều gia đình, đền phủ sẽ tổ chức các buổi cúng bái, hầu đồng, dâng hương, cầu an để thể hiện lòng thành kính.</p>
<table width="100%" boder="1">
<tbody>
<tr style="height: 20.8px;">
<td style="text-align: center;"><span style="background-color: #ffffff; color: #e67e23;"><strong>Ngày Âm Lịch</strong></span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="background-color: #ffffff; color: #e67e23;"><strong>Tên Tiệc/Lễ</strong></span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="background-color: #ffffff; color: #e67e23;"><strong>Địa Điểm Nổi Bật (Nếu Có)</strong></span></td>
<td style="text-align: center;"><span style="background-color: #ffffff; color: #e67e23;"><strong>Ý Nghĩa Chính</strong></span></td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>1 - 29/7</td>
<td>Đại Lễ Tán Hạ</td>
<td>Các đền, phủ Tứ Phủ</td>
<td>Tạ ơn thần linh, cầu an, tạ lỗi, xin phù hộ độ trì.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>03/07</td>
<td>Tiệc Vương Nữ Tôn Anh Tông Hoàng Hậu</td>
<td>Một số dòng điện, phủ thờ</td>
<td>Cầu bình an, may mắn.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>06/07</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Cô Tư</td>
<td>Các đền, phủ Tứ Phủ</td>
<td>Cầu sức khỏe, bình an, công danh.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>07/07</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà</td>
<td>Đền Bảo Hà, Lào Cai</td>
<td>Cầu tài lộc, bình an, công danh sự nghiệp.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>12/7</td>
<td>Tiệc Quốc Mẫu Tuyên Quang Ỷ La</td>
<td>Các đền, phủ thờ Mẫu tại Tuyên Quang</td>
<td>Cầu an lành, ấm no, hạnh phúc.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>13/7</td>
<td>Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn – Thanh Hoá</td>
<td>Một số điện thờ tại Thanh Hóa</td>
<td>Cầu bình an, may mắn, thành đạt.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>14/7</td>
<td>Tiệc Ông Hoàng Đôi Bảo Hà</td>
<td>Đền Bảo Hà, Lào Cai</td>
<td>Cầu sự che chở, phù hộ.</td>
</tr>
<tr style="height: 40.8px;">
<td>17/7</td>
<td>Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà</td>
<td>Đền Bảo Hà, Lào Cai</td>
<td>(Tiệc lớn thứ hai trong tháng) Cầu tài lộc, bình an, công danh sự nghiệp.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>20/7</td>
<td>Tiệc Bà Chúa Kho</td>
<td>Đền Bà Chúa Kho, Bắc Ninh</td>
<td>Cầu tài lộc, buôn may bán đắt, công danh.</td>
</tr>
<tr style="height: 40.8px;">
<td>21/7</td>
<td>Tiệc Chầu Bẩy Kim Giao &amp; Tiệc Cô Bẩy Kim Giao</td>
<td>Các đền, phủ Tứ Phủ</td>
<td>Cầu bình an, may mắn, tài lộc.</td>
</tr>
<tr style="height: 20.8px;">
<td>21/7</td>
<td>Tiệc Cô Cả Núi Dùm – Tuyên Quang</td>
<td>Một số đền, phủ tại Tuyên Quang</td>
<td>Cầu sự che chở, bảo vệ cho cuộc sống an lành.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h2 data-sourcepos="13:1-13:51">Các Tiệc Đản Nhật và Lễ Kỵ trong tháng 7 âm lịch</h2>
<p data-sourcepos="15:1-15:205">Tháng 7 âm lịch ghi dấu nhiều ngày đản nhật (ngày sinh) và ngày kỵ (ngày mất) của các vị thần linh được thờ phụng trong hệ thống Tứ Phủ, thể hiện sự đa dạng và phong phú trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.</p>
<h3 data-sourcepos="17:1-17:60">1. Tiệc Vương Nữ Tôn Anh Tông Hoàng Hậu (Ngày 03/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="19:1-19:372">Ngày 3 tháng 7 âm lịch là tiệc của Vương Nữ Tôn Anh Tông Hoàng Hậu. Mặc dù thông tin về vị Vương Nữ này không phổ biến rộng rãi như các vị Thánh Mẫu hay Quan Hoàng, nhưng việc có ngày tiệc riêng cho thấy sự tôn kính và ghi nhận công đức của ngài trong một số dòng điện, phủ thờ nhất định. Đây là dịp để con nhang đệ tử dâng hương, cầu mong sự phù hộ về bình an và may mắn.</p>
<h3 data-sourcepos="21:1-21:43">2. Tiệc Đản Nhật Cô Tư (Ngày 06/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="23:1-23:402">Cô Tư là một trong các hàng Cô trong Tứ Phủ Thánh Cô, thường được biết đến với vẻ đẹp thanh tú, tính cách đoan trang, hiền thục. Ngày đản nhật của Cô Tư vào mùng 6 tháng 7 âm lịch là dịp để các thanh đồng, tín chủ sắm sửa lễ vật, dâng hương hoa, cầu mong sự phù hộ về sức khỏe, bình an và công danh sự nghiệp. Các bản văn chầu Cô Tư thường ca ngợi vẻ đẹp, sự từ bi và khả năng cứu độ chúng sinh của Cô.</p>
<h3 data-sourcepos="25:1-25:76">3. Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà – Lào Cai (Ngày 07/7 và 17/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="27:1-27:602"><strong>Ông Hoàng Bảy Bảo Hà</strong> là một vị quan Hoàng nổi tiếng và được thờ phụng rộng rãi trong tín ngưỡng Tứ Phủ, đặc biệt tại đền Bảo Hà, Lào Cai. Ông được biết đến là một vị quan anh minh, tài giỏi, có công trấn giữ biên cương, bảo vệ non sông. Ngày 7 tháng 7 và ngày 17 tháng 7 âm lịch đều là những ngày tiệc lớn của Ông Hoàng Bảy. Đây là thời điểm mà đông đảo du khách thập phương, con nhang đệ tử từ khắp nơi đổ về đền Bảo Hà để dâng hương, làm lễ cầu tài lộc, bình an, công danh. Tiệc của Ông Hoàng Bảy thường rất long trọng, với nhiều giá đồng được mở để tái hiện lại sự uy nghi, linh thiêng của ngài.</p>
<h3 data-sourcepos="29:1-29:54">4. Tiệc Quốc Mẫu Tuyên Quang Ỷ La (Ngày 12/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="31:1-31:346">Quốc Mẫu Tuyên Quang Ỷ La là một vị thần linh được thờ phụng tại vùng Tuyên Quang, thể hiện sự đa dạng trong việc thờ cúng các vị Mẫu bản địa. Ngày 12 tháng 7 âm lịch là dịp để người dân địa phương và tín đồ hành hương về các đền, phủ thờ Mẫu Ỷ La để bày tỏ lòng thành kính, cầu mong sự che chở, ban phước lành cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.</p>
<h3 data-sourcepos="33:1-33:66">5. Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn – Thanh Hoá (Ngày 13/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="35:1-35:375">Quan Triệu Tường Tống Sơn là một vị Quan trong hàng Quan Hoàng Tứ Phủ, gắn liền với vùng đất Thanh Hóa. Mặc dù thông tin chi tiết về ngài không phổ biến rộng rãi như một số vị Quan khác, nhưng ngày 13 tháng 7 âm lịch là dịp để các tín đồ tại địa phương và những ai ngưỡng vọng ngài dâng hương, lễ bái. Tiệc của ngài thường hướng đến cầu mong sự bình an, may mắn và thành đạt.</p>
<h3 data-sourcepos="37:1-37:49">6. Tiệc Ông Hoàng Đôi Bảo Hà (Ngày 14/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="39:1-39:427">Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Đôi cũng là một vị Quan Hoàng được thờ phụng tại Bảo Hà, Lào Cai. Ngày 14 tháng 7 âm lịch là ngày tiệc của Ông Hoàng Đôi, thường được tổ chức sau ngày tiệc của Ông Hoàng Bảy. Việc thờ phụng Ông Hoàng Đôi cùng với Ông Hoàng Bảy thể hiện sự gắn kết và bổ trợ lẫn nhau giữa các vị thần linh trong hệ thống Tứ Phủ. Các tín đồ thường đến dâng hương, cầu mong sự che chở, phù hộ của cả hai vị Hoàng.</p>
<h3 data-sourcepos="41:1-41:81">7. Tiệc Bà Chúa Kho tại khu Cổ Mễ, Phường Vũ Ninh – Bắc Ninh (Ngày 20/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="43:1-43:546"><strong>Bà Chúa Kho</strong> là một trong những vị thần linh được thờ phụng rất phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là ở Bắc Ninh, nơi có đền Bà Chúa Kho nổi tiếng. Bà được coi là vị thần cai quản kho tàng quốc gia, ban phát tài lộc, của cải cho nhân dân. Ngày 20 tháng 7 âm lịch là ngày kỵ của Bà Chúa Kho (Bà mất ngày 12/1/1077 âm lịch). Dù là ngày kỵ, nhưng đây lại là một trong những ngày lễ lớn nhất trong năm tại đền Bà Chúa Kho. Hàng vạn lượt người hành hương về đây để dâng lễ, cầu tài lộc, cầu buôn may bán đắt, đặc biệt là các thương nhân, doanh nghiệp.</p>
<h3 data-sourcepos="45:1-45:73">8. Tiệc Chầu Bẩy Kim Giao &amp; Tiệc Cô Bẩy Kim Giao (Ngày 21/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="47:1-47:438">Chầu Bẩy Kim Giao và Cô Bẩy Kim Giao là hai vị trong hàng Chầu và hàng Cô Tứ Phủ. Chầu Bẩy thường được miêu tả là một vị Chầu quyền uy, linh thiêng, gắn liền với vùng đất Kim Giao. Cô Bẩy Kim Giao thì lại mang vẻ đẹp tươi trẻ, thanh thoát. Ngày 21 tháng 7 âm lịch là ngày tiệc chung của cả hai vị, thể hiện sự gắn bó giữa các hàng Thánh trong Tứ Phủ. Các buổi hầu đồng, dâng lễ vào ngày này thường cầu mong sự bình an, may mắn và tài lộc.</p>
<h3 data-sourcepos="49:1-49:56">9. Tiệc Cô Cả Núi Dùm – Tuyên Quang (Ngày 21/7 âm lịch)</h3>
<p data-sourcepos="51:1-51:376">Cô Cả Núi Dùm là một vị Cô trong hàng Cô Tứ Phủ, gắn liền với vùng núi Dùm ở Tuyên Quang. Việc thờ phụng Cô Cả Núi Dùm thể hiện tín ngưỡng thờ thần núi, thần rừng, những vị thần cai quản địa linh. Ngày 21 tháng 7 âm lịch, cùng với tiệc Chầu Bẩy và Cô Bẩy Kim Giao, là dịp để người dân và tín đồ hướng về Cô Cả Núi Dùm, cầu mong sự che chở, bảo vệ cho cuộc sống an lành, ấm no.</p>
<h2 data-sourcepos="55:1-55:32">Ý Nghĩa Văn Hóa và Tín Ngưỡng</h2>
<p data-sourcepos="57:1-57:134">Tháng 7 âm lịch với chuỗi các tiệc thánh Tứ Phủ không chỉ là những ngày lễ mang tính nghi thức mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc:</p>
<ul data-sourcepos="59:1-64:0">
<li data-sourcepos="59:1-59:565"><strong>Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại</strong>: Đặc biệt, <span class="citation-0 citation-end-0">"Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân<sup _ngcontent-ng-c1993162508="" class="superscript" data-turn-source-index="1"><!----></sup></span> loại vào ngày <strong>01/12/2016</strong>. Việc công nhận này không chỉ khẳng định giá trị độc đáo và tầm ảnh hưởng quốc tế của Tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn góp phần nâng cao nhận thức về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống này. Điều này cũng giúp xóa bỏ những định kiến sai lầm về tín ngưỡng, khẳng định tính nhân văn và vẻ đẹp tâm linh của nó. <strong>Tri ân và Cầu An</strong>: Đây là dịp để con dân bày tỏ lòng biết ơn đối với công đức của các vị thần linh, những người đã có công khai phá, bảo vệ và phù hộ cho cuộc sống. Đồng thời, qua các nghi lễ, người dân cầu mong sự bình an, sức khỏe, tài lộc và may mắn cho bản thân, gia đình và cộng đồng.</li>
<li data-sourcepos="61:1-61:160"><strong>Kết Nối Cộng Đồng</strong>: Các tiệc thánh thu hút đông đảo người dân từ khắp nơi về tham dự, tạo nên sự gắn kết cộng đồng, thể hiện tinh thần đoàn kết và sẻ chia.</li>
<li data-sourcepos="62:1-62:196"><strong>Bảo Tồn Bản Sắc Văn Hóa</strong>: Các nghi lễ, hầu đồng, hát văn trong các tiệc thánh Tứ Phủ góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, nghệ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam.</li>
<li data-sourcepos="63:1-64:0"><strong>Gìn Giữ Đạo Lý</strong>: Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ nói chung và các tiệc thánh nói riêng đề cao đạo lý "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh công lao của những người đã khuất, nhắc nhở con cháu về cội nguồn và lòng hiếu thảo.</li>
</ul>
<p data-sourcepos="65:1-65:258">Tháng 7 âm lịch với những tiệc thánh Tứ Phủ linh thiêng là một bức tranh đa sắc màu của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thể hiện lòng thành kính, niềm tin và hy vọng của con người vào thế giới tâm linh, cầu mong một cuộc sống bình an, hạnh phúc và thịnh vượng.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tiệc Thánh Tứ Phủ Trong Tháng 6 âm lịch</title>
<link>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-6-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-6-am</guid>
<description><![CDATA[ Tháng 6 âm lịch là một tháng có nhiều ngày tiệc trọng đại đặc biệt là tiệc về Thoải Phủ, thể hiện sự phong phú và đa dạng trong hệ thống thần linh của tín ngưỡng thờ Mẫu ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_6833d27f04c1c.jpg" length="187549" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Mon, 26 May 2025 09:32:10 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>Tiệc Thánh Tứ Phủ Trong Tháng 6 âm lịch</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="5:1-5:361">Tháng 6 âm lịch là một tháng có nhiều ngày tiệc trọng đại đặc biệt là tiệc về Thoải Phủ, thể hiện sự phong phú và đa dạng trong hệ thống thần linh của tín ngưỡng thờ Mẫu. Các ngày tiệc này không chỉ là dịp để con nhang đệ tử và người dân thành tâm kính lễ, cầu mong phúc lộc, bình an mà còn là cơ hội để tìm hiểu sâu sắc hơn về cội nguồn văn hóa tâm linh của dân tộc.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6833d27f542f8.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<h2 data-sourcepos="7:1-7:51"><strong>Chi Tiết Các Ngày Tiệc Trong Tháng Sáu Âm Lịch:</strong></h2>
<table width="100%" border-width="1">
<tbody>
<tr>
<td><strong>Ngày Âm Lịch</strong></td>
<td><strong>Tên Tiệc/Lễ</strong></td>
<td><strong>Ghi Chú/Ý Nghĩa Chính (Nếu có)</strong></td>
</tr>
<tr>
<td>1</td>
<td>Tiệc Trần Triều Vương Phụ An Sinh</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>10</td>
<td>Tiệc Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải)</td>
<td>
<div>
<div>Lễ vía của Mẫu Thoải, cai quản miền sông nước.</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>12</td>
<td>Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>12</td>
<td>Tiệc Cô Bơ Bông</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>16</td>
<td>Tiệc Chúa Năm Phương</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>24</td>
<td>Tiệc Quan Lớn Đệ Tam</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>24</td>
<td>Tiệc Cô Bé Minh Lương</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>26</td>
<td>Tiệc Quan Hoàng Bơ</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>26</td>
<td>Tiệc Cô Tám Đồi Chè</td>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h3 data-sourcepos="9:3-9:107"><strong>Ngày 01 tháng 06 Âm Lịch: Tiệc Trần Triều Vương Phụ An Sinh (Vương Phi Truy Phong Khâm Định Đại Vương)</strong></h3>
<ul>
<li><strong>Chư vị được tôn thờ/kính lễ:</strong> <strong>An Sinh Vương Trần Liễu</strong>, thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, và <strong>Vương Phi phu nhân của ngài</strong>, sau được truy phong là <strong>Khâm Định Đại Vương</strong>.</li>
<li data-sourcepos="11:5-13:117"><strong>Nơi thờ cúng chính/tiêu biểu:</strong>
<ul data-sourcepos="10:5-16:0">
<li data-sourcepos="12:9-12:227"><strong>An Sinh Vương Trần Liễu:</strong> Đền An Sinh (<span>An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh</span>) là khu vực lăng miếu thờ các vị vua Trần và An Sinh Vương. Ngoài ra, <span>Đền Cao An Phụ là ngôi đền thờ trên đỉnh núi An Phụ tại phường An Sinh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Đền có tên tự là "An Phụ Sơn Từ", tọa lạc trên đỉnh cao nhất của dãy núi An Phụ (246 m)</span></li>
<li data-sourcepos="13:9-13:117"><strong>Thiện Đạo Quốc Mẫu:</strong> Thường được phối thờ cùng An Sinh Vương tại Đền An Sinh và một số đền thờ nhà Trần.</li>
</ul>
</li>
<li><strong>Ý nghĩa:</strong> Tưởng nhớ công đức của An Sinh Vương Trần Liễu và tôn vinh Thiện Đạo Quốc Mẫu.</li>
<li><strong>Hoạt động chính:</strong> Các đền thờ thuộc khu di tích nhà Trần ở Đông Triều và các đền thờ Đức Thánh Trần khác tổ chức nghi lễ trang trọng, dâng hương, tế lễ.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="17:3-17:82"><strong>Ngày 10 tháng 06 Âm Lịch: Cúng Tiệc Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải – Đền Mẫu Hàn Sơn)</strong></h3>
<ul>
<li><strong>Đức Thánh Mẫu được tôn thờ:</strong> <strong>Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ</strong> (Thánh Mẫu Thoải).</li>
<li data-sourcepos="19:5-21:249"><strong>Nơi thờ cúng chính/tiêu biểu:</strong>
<ul data-sourcepos="18:5-24:0">
<li data-sourcepos="20:9-20:138"><strong>Đền Mẫu Hàn Sơn</strong> (xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là một trong những ngôi đền cổ và rất linh thiêng thờ Mẫu Thoải.</li>
<li data-sourcepos="21:9-21:249">Ngoài ra, Mẫu Thoải được thờ ở rất nhiều nơi, đặc biệt là các đền chùa ven sông, ven biển như: Đền Mẫu Thoải Hà Nội (phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng), Đền Cửa Ông (Quảng Ninh) có ban thờ Mẫu Thoải, và nhiều đền Mẫu khác trên toàn quốc.</li>
</ul>
</li>
<li><strong>Ý nghĩa:</strong> Tôn vinh uy đức và quyền năng của Mẫu Thoải, cầu mong sự bình an cho những người làm nghề sông nước, mưa thuận gió hòa.</li>
<li><strong>Hoạt động chính:</strong> Nghi lễ cúng tế trang nghiêm, các giá hầu đồng Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="25:3-25:91"><strong>Ngày 12 tháng 06 Âm Lịch: Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn và Tiệc Cô Bơ Bông (Cô Ba Thoải Cung)</strong></h3>
<ul>
<li><strong>Chư vị Thánh Mẫu và Thánh Cô được tôn thờ/kính lễ:</strong>
<ul data-sourcepos="26:5-34:0">
<li data-sourcepos="27:9-27:297"><strong>Mẫu Thác Đền Hàn:</strong> Danh xưng này có thể chỉ một vị Thánh Mẫu bản địa gắn liền với một địa danh cụ thể có đền thờ tên Đền Hàn và gần thác nước. Cần thêm thông tin địa phương để xác định chính xác. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, có thể là một hiển linh của Mẫu Thoải tại các khu vực có thác.</li>
<li data-sourcepos="28:9-28:44"><strong>Cô Bơ Bông (Cô Ba Thoải Cung):</strong></li>
</ul>
</li>
<li><strong>Nơi thờ cúng chính/tiêu biểu:</strong>
<ul data-sourcepos="26:5-34:0">
<li data-sourcepos="30:9-30:135"><strong>Mẫu Thác Đền Hàn:</strong> Cần xác định rõ địa danh "Đền Hàn" được nhắc tới. Nếu là Đền Hàn Sơn (Thanh Hóa) thì gắn với Mẫu Thoải.</li>
<li data-sourcepos="31:9-31:228"><strong>Cô Bơ Bông:</strong> Đền Cô Bơ (hay Đền Ba Bông, Đền Cô Ba Thoải Cung) tại xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (gần Đền Mẫu Hàn Sơn) được coi là nơi thờ chính. Ngoài ra, Cô Bơ còn được thờ ở nhiều đền phủ Tứ Phủ khác.</li>
</ul>
</li>
<li><strong>Ý nghĩa:</strong> Tưởng nhớ và tôn vinh các vị Thánh Mẫu và Thánh Cô, cầu xin phước lành, bình an.</li>
<li><strong>Hoạt động chính:</strong> Tế lễ, dâng hương. Trong hầu đồng, giá Cô Bơ Bông rất được mong đợi.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="35:3-35:77"><strong>Ngày 24 tháng 06 Âm Lịch: Tiệc Quan Lớn Đệ Tam và Tiệc Cô Bé Minh Lương</strong></h3>
<ul>
<li><strong>Chư vị Thánh Quan và Thánh Cô được tôn thờ/kính lễ:</strong></li>
<li data-sourcepos="37:9-37:58"><strong>Quan Lớn Đệ Tam (Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ):</strong></li>
<li data-sourcepos="38:9-38:31"><strong>Cô Bé Minh Lương:</strong></li>
<li><strong>Nơi thờ cúng chính/tiêu biểu:</strong>
<ul data-sourcepos="36:5-44:0">
<li data-sourcepos="40:9-40:260"><strong>Quan Lớn Đệ Tam:</strong> Ngài được thờ tại nhiều đền Tứ Phủ, thường có ban thờ riêng hoặc phối thờ cùng Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Một số nơi nổi tiếng có đền <strong>Lảnh Giang (Hà Nam), Đền Xích Đằng (Hưng Yên) </strong>thờ Quan Lớn Đệ Tam khá nổi tiếng. Quan Lớn Đệ Tam cũng được thờ tại Hầu hết các đền thờ tứ phủ tại Việt Nam</li>
<li data-sourcepos="41:9-41:238"><strong>Cô Bé Minh Lương:</strong> Thường được thờ tại các đền thờ Mẫu hoặc Tứ Phủ ở các địa phương có tên Minh Lương hoặc có lưu truyền sự tích của Cô. Việc xác định một "nơi thờ chính" duy nhất có thể khó khăn, thường mang tính địa phương.</li>
</ul>
</li>
<li><strong>Ý nghĩa:</strong> Tôn vinh công đức Quan Lớn Đệ Tam và Cô Bé Minh Lương, cầu xin sự che chở, ban phúc.</li>
<li><strong>Hoạt động chính:</strong> Lễ tiệc, dâng hương, các giá hầu đồng Quan Lớn Đệ Tam và Cô Bé Minh Lương.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="45:3-45:95"><strong>Ngày 26 tháng 06 Âm Lịch: Tiệc Quan Hoàng Bơ (Quan Hoàng Ba) cùng với Tiệc Cô Tám Đồi Chè</strong></h3>
<ul data-sourcepos="46:5-54:0">
<li data-sourcepos="46:5-48:29"><strong>Chư vị Thánh Hoàng và Thánh Cô được tôn thờ/kính lễ:</strong>
<ul data-sourcepos="47:9-48:29">
<li data-sourcepos="47:9-47:54"><strong>Quan Hoàng Bơ (Quan Hoàng Ba Thoải Phủ):</strong></li>
<li data-sourcepos="48:9-48:29"><strong>Cô Tám Đồi Chè:</strong></li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="49:5-51:250"><strong>Nơi thờ cúng chính/tiêu biểu:</strong>
<ul data-sourcepos="50:9-51:250">
<li data-sourcepos="50:9-50:213"><strong>Quan Hoàng Bơ:</strong> Đền Quan Hoàng Bơ (hay Đền Ông Hoàng Ba) tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An được nhiều người biết đến là nơi thờ chính của ngài. Ngài cũng được thờ tại nhiều đền Tứ Phủ khác.</li>
<li data-sourcepos="51:9-51:250"><strong>Cô Tám Đồi Chè:</strong> Đền Cô Tám Đồi Chè (Đền Trình) tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là một trong những nơi thờ tự nổi tiếng của Cô. Cô cũng được phối thờ ở nhiều đền Mẫu, đền Tứ Phủ khác, đặc biệt ở các vùng trung du Bắc Bộ.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="52:5-52:99"><strong>Ý nghĩa:</strong> Tưởng nhớ và tôn vinh Quan Hoàng Bơ và Cô Tám Đồi Chè, cầu xin may mắn, tài lộc.</li>
<li data-sourcepos="53:5-54:0"><strong>Hoạt động chính:</strong> Lễ tiệc tại các đền, điện thờ. Giá hầu Quan Hoàng Bơ và Cô Tám Đồi Chè thường mang không khí vui tươi, gần gũi.</li>
</ul>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tiệc Thánh Tứ Phủ Tháng 5 Âm Lịch</title>
<link>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-5</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tiec-tu-phu-thang-5</guid>
<description><![CDATA[ Trong tín ngưỡng thờ Mẫu và Đức Thánh Trần, &quot;Tiệc Thánh&quot; là những ngày lễ kỷ niệm đặc biệt, thường là ngày Đản nhật (ngày sinh) hoặc Hóa nhật (ngày hóa/ngày mất) của các vị Thánh. Đây không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm, mà còn là thời điểm linh thiêng nhất trong năm, khi năng lượng của các vị Thánh được cho là giáng xuống trần gian mạnh mẽ nhất. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_6831dc5c20796.jpg" length="170549" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Sat, 24 May 2025 21:49:38 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>tiệc tứ phủ tháng 5</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="7:1-7:548">Tháng 5 âm lịch, giữa tiết trời vào hạ, không khí tâm linh tại các đền, phủ, chùa chiền trên khắp dải đất Việt lại trở nên đặc biệt linh thiêng. Đây là thời điểm mà tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ và tín ngưỡng Đức Thánh Trần hội tụ với những ngày "Tiệc Thánh" quan trọng. Đối với những người con của Đạo Mẫu và những ai thành kính với Đức Thánh Trần, tháng 5 âm lịch không chỉ là dịp để cầu an, cầu lộc mà còn là cơ hội để tìm về cội nguồn, tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân, thần thánh đã có công khai sáng, bảo vệ và ban phúc cho nhân loại.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831dc5c5da8f.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<h3 data-sourcepos="11:1-11:64">Tiệc Thánh là gì trong Tín Ngưỡng Đạo Mẫu và Đức Thánh Trần?</h3>
<table width="100%" border-width="1">
<tbody>
<tr>
<td><strong>Ngày Âm Lịch</strong></td>
<td><strong>Tên Tiệc/Lễ</strong></td>
<td>
<div>
<div><strong>Địa Điểm (Nếu Có)</strong></div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>05/05</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Đệ Nhị Vương Cô Trần Triều Đại Hoàng Công Chúa Chính Cung</div>
</div>
</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>07/05</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Vương Tử Đệ Tứ Hưng Trí Đại Vương Trần Triều</div>
</div>
</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>10/5</td>
<td>Tiệc Đản Nhật Chầu Lục Cung Nương Chín Tư Hữu Lũng – Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Hữu Lũng – Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>10/5</td>
<td>
<div>
<div>Tiệc Cô Sáu Sơn Trang</div>
</div>
</td>
<td></td>
</tr>
<tr>
<td>10/5</td>
<td>Tiệc Chúa Đệ Nhất Tây Thiên – Vĩnh Phúc</td>
<td>
<div>
<div>Tây Thiên – Vĩnh Phúc</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>20/5</td>
<td>Tiệc Chầu Năm Suối Lân – Hữu Lũng – Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Suối Lân – Hữu Lũng – Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>20/5</td>
<td>Tiệc Cô Năm Suối Lân – Hữu Lũng – Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Suối Lân – Hữu Lũng – Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td>25/5</td>
<td>Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh Ninh Giang – Hải Dương &amp; Kỳ Cùng – Lạng Sơn</td>
<td>
<div>
<div>Ninh Giang – Hải Dương &amp; Kỳ Cùng – Lạng Sơn</div>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p data-sourcepos="13:1-13:352">Trong tín ngưỡng thờ Mẫu và Đức Thánh Trần, <strong>"Tiệc Thánh"</strong> là những ngày lễ kỷ niệm đặc biệt, thường là ngày Đản nhật (ngày sinh) hoặc Hóa nhật (ngày hóa/ngày mất) của các vị Thánh. Đây không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm, mà còn là thời điểm linh thiêng nhất trong năm, khi năng lượng của các vị Thánh được cho là giáng xuống trần gian mạnh mẽ nhất.</p>
<p data-sourcepos="15:1-15:325">Người Việt tin rằng, vào những ngày Tiệc Thánh, nếu thành tâm dâng hương, lễ vật và khấn nguyện, mọi ước mong sẽ dễ dàng được các Ngài chứng giám và ban phúc. Những ngày này thường đi kèm với các nghi lễ trang trọng, hầu đồng (hầu giá) tại các đền, phủ, tạo nên không khí vừa thiêng liêng, vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.</p>
<h3 data-sourcepos="19:1-19:50">Các Tiệc Thánh Trọng Đại Trong Tháng 5 Âm Lịch</h3>
<p data-sourcepos="21:1-21:115">Tháng 5 âm lịch mang trong mình những ngày Tiệc Thánh có ý nghĩa sâu sắc, gắn liền với các vị thần linh quan trọng:</p>
<h4 data-sourcepos="23:1-23:64">1. Ngày 05/05 Âm Lịch: Tiệc Quốc Mẫu và Vương Cô Đệ Nhị Đại Hoàng Trần Triều</h4>
<ul data-sourcepos="25:1-27:0">
<li data-sourcepos="25:1-25:393"><strong>Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ:</strong> Mặc dù không phải là ngày Đản hay Hóa nhật chính yếu được ghi chép rộng rãi, nhưng nhiều nơi vẫn chọn ngày Đoan Ngọ (<strong>Tết Đoan Ngọ</strong>) mùng 5 tháng 5 để dâng lễ tưởng nhớ Quốc Mẫu Âu Cơ. Đây là một cách để hòa quyện tín ngưỡng thờ Mẫu với một trong những ngày lễ truyền thống quan trọng của dân tộc, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với người Mẹ khai sinh ra bách Việt.</li>
<li data-sourcepos="26:1-27:0"><strong>Tiệc Trần Triều Đệ Nhị Vương Cô (Thượng Thiên Công Chúa) và Đại Hoàng Công Chúa Chính Cung:</strong> Ngày này là dịp con nhang đệ tử tưởng nhớ các vị Vương Cô của nhà Trần, những người con gái tài đức của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, hoặc các vị công chúa có vai trò quan trọng khác. Các vị Vương Cô thường được thờ trong tín ngưỡng Trần Triều, được tin là linh thiêng trong việc ban tài lộc, bình an, đặc biệt là phù hộ cho phái nữ và sự ấm no trong gia đình.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="28:1-28:78">2. Ngày 07/05 Âm Lịch: Tiệc Trần Triều Vương Tử Đệ Tứ, Hưng Trí Đại Vương</h4>
<ul data-sourcepos="30:1-31:0">
<li data-sourcepos="30:1-31:0">Đây là ngày Tiệc quan trọng để tưởng nhớ <strong>Hưng Trí Đại Vương Trần Quốc Nghiễn</strong>, một trong những người con trai của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ngài cùng các anh em mình đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, góp phần vào những chiến thắng lừng lẫy của dân tộc. Lễ Tiệc là dịp để con cháu bày tỏ lòng tri ân công lao của các vị Vương Tử, cầu mong sự phù hộ về sức khỏe, trí tuệ và sự nghiệp.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="32:1-32:72">3. Ngày 10/05 Âm Lịch: Tiệc Chầu Lục Cung Nương và Cô Sáu Sơn Trang</h4>
<ul data-sourcepos="34:1-36:0">
<li data-sourcepos="34:1-34:443"><strong>Đản nhật Chầu Lục Cung Nương (Chầu Sáu Lục Cung):</strong> Ngày 10 tháng 5 âm lịch là ngày sinh của Chầu Lục, một trong Tứ Phủ Chầu Bà có vai trò quan trọng trong hệ thống Đạo Mẫu. Chầu Lục thường được biết đến là vị Thánh Chầu cai quản vùng Lục Cung (thuộc Lạng Sơn), đặc biệt linh thiêng tại Đền Chín Tư (Hữu Lũng). Người ta đến dâng lễ Chầu Lục để cầu mong sự bình an, may mắn, và những ước nguyện liên quan đến tình duyên, gia đạo.</li>
<li data-sourcepos="35:1-36:0"><strong>Tiệc Cô Sáu Sơn Trang (Cô Sáu Lục Cung):</strong> Nằm trong hệ thống Tứ Phủ Cô, Cô Sáu Sơn Trang thường được coi là hầu cận của các Chầu Bà vùng núi rừng. Tiệc Cô Sáu vào ngày này thường đi kèm với Tiệc Chầu Lục, thể hiện sự tôn kính đối với các vị Cô đồng hành cùng các Chầu, mang đến sự che chở và bình an cho những ai đi làm ăn nơi sơn cước.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="37:1-37:50">4. Ngày 20/05 Âm Lịch: Tiệc Chầu Năm Suối Lân</h4>
<ul data-sourcepos="39:1-41:0">
<li data-sourcepos="39:1-39:241"><strong>Hóa nhật Chầu Năm Suối Lân:</strong> Ngày 20 tháng 5 âm lịch là ngày Hóa của Chầu Năm Suối Lân, một vị Thánh Chầu nổi tiếng trong Tứ Phủ Chầu Bà. Chầu Năm được cho là linh thiêng cai quản vùng sông suối, núi rừng, đặc biệt là tại vùng Suối Lân.</li>
<li data-sourcepos="40:1-41:0"><strong>Ý nghĩa:</strong> Con nhang đệ tử thường đến các đền thờ Chầu Năm để cầu xin sự che chở, bình an cho những người làm nghề sông nước, buôn bán, hay những người có công việc liên quan đến núi rừng. Chầu Năm được tin là rất linh ứng trong việc ban phát tài lộc, sự thuận lợi trong kinh doanh và hóa giải những khó khăn trên đường làm ăn.</li>
</ul>
<h4 data-sourcepos="42:1-42:84">5. Ngày 25/05 Âm Lịch: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh (Hóa nhật Đệ Ngũ Quan Tuần Sát)</h4>
<ul data-sourcepos="44:1-47:0">
<li data-sourcepos="44:1-44:132">Đây là một trong những <strong>Tiệc Thánh lớn và quan trọng bậc nhất</strong> trong tháng 5 âm lịch, thu hút đông đảo tín đồ từ khắp nơi đổ về.</li>
<li data-sourcepos="45:1-45:485"><strong>Nhân vật được thờ cúng:</strong> <strong>Quan Lớn Tuần Tranh</strong>, còn được gọi là Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Sát, hay Đệ Ngũ Vương Quan. Ngài là một vị quan thời nhà Trần (có truyền thuyết cho rằng Ngài là một trong những người con của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn hoặc một vị tướng tài ba khác) có công lớn trong việc cai quản và bảo vệ vùng sông nước, đặc biệt là tại vùng sông Tranh (Hải Dương). Truyền thuyết kể rằng Ngài bị oan khuất và hóa đi vào ngày này, sau đó hiển linh phù hộ cho dân chúng.</li>
<li data-sourcepos="46:1-47:0"><strong>Ý nghĩa:</strong> <strong>Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh</strong> là dịp để con nhang đệ tử, đặc biệt là những người làm nghề sông nước, buôn bán, hay những người có căn số, về bái lễ, cầu xin sự che chở, bình an trên sông nước, tài lộc hanh thông và giải trừ tai ương, hóa giải oan trái. Ngài được tin là rất linh thiêng trong việc hóa giải những điều bất công và ban phước lành cho những người lương thiện. Đền thờ chính của Ngài là Đền Quan Lớn Tuần Tranh (hay Đền Tranh) ở Ninh Giang, Hải Dương.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="50:1-50:49">Văn Hóa và Tín Ngưỡng Đằng Sau Các Tiệc Thánh</h3>
<p data-sourcepos="52:1-52:159">Các Tiệc Thánh trong tháng 5 âm lịch không chỉ là ngày kỷ niệm của một cá nhân hay một vị thần, mà còn là biểu hiện sâu sắc của văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam:</p>
<ul data-sourcepos="54:1-58:0">
<li data-sourcepos="54:1-54:163"><strong>Sự kết nối giữa người và thần:</strong> Đây là dịp để con người thể hiện lòng biết ơn, tin tưởng và giao tiếp với thế giới tâm linh, tìm kiếm sự bình an và hướng dẫn.</li>
<li data-sourcepos="55:1-55:166"><strong>Giữ gìn giá trị truyền thống:</strong> Thông qua các nghi lễ, hát chầu văn, hầu đồng, các giá trị văn hóa dân gian được bảo tồn và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.</li>
<li data-sourcepos="56:1-56:146"><strong>Ý nghĩa cộng đồng:</strong> Các Tiệc Thánh thường kéo theo không khí lễ hội sôi động, là dịp để cộng đồng tụ họp, giao lưu, tăng cường tình đoàn kết.</li>
<li data-sourcepos="57:1-58:0"><strong>Biểu tượng của sự sống và sinh sôi:</strong> Đặc biệt trong tháng 5 âm lịch, nhiều Tiệc Thánh gắn liền với sự phát triển, sinh sôi, nảy nở của vạn vật và sự sung túc, thịnh vượng.</li>
</ul>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Những Ngôi Đền Linh Thiêng Tại Hòa Bình nhất định phải ghé qua ít nhất 1 lần trong đời</title>
<link>https://tuvidonga.com/den-tho-o-hoa-binh</link>
<guid>https://tuvidonga.com/den-tho-o-hoa-binh</guid>
<description><![CDATA[ Bước chân về Hòa Bình, là ta bước vào cõi tâm linh sâu thẳm. Những ngôi đền dưới đây không chỉ là nơi thờ phụng, mà còn là minh chứng hùng hồn cho bao thăng trầm lịch sử, nơi mà mỗi phiến đá, mỗi mái ngói đều kể câu chuyện về sự linh thiêng, về lòng thành kính của con người. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x580_6831ccba2dcad.jpg" length="131407" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Sat, 24 May 2025 20:42:35 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>đền thờ linh thiêng tại hòa bình</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="9:1-9:275">Bước chân về Hòa Bình, là ta bước vào cõi tâm linh sâu thẳm. Những ngôi đền dưới đây không chỉ là nơi thờ phụng, mà còn là minh chứng hùng hồn cho bao thăng trầm lịch sử, nơi mà mỗi phiến đá, mỗi mái ngói đều kể câu chuyện về sự linh thiêng, về lòng thành kính của con người.</p>
<h3 data-sourcepos="13:1-13:78">1. Đền Chúa Thác Bờ</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831cdf7a831d.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="15:1-22:0">
<li data-sourcepos="15:1-15:65"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Đền Chúa Thác Bờ</strong> (hay còn gọi là Đền Thác Bờ, Đà Giang Linh Từ).</li>
<li data-sourcepos="15:1-15:65">Tên hán việt: <strong>Thác Bờ Linh Từ - 托坡靈祠</strong></li>
<li data-sourcepos="16:1-16:251"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Nằm trên đỉnh đồi Hang Thần, thuộc xóm Phố Bờ, <strong>xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình</strong>, giữa lòng hồ Hòa Bình mênh mông. Đây là một trong hai ngôi đền nổi tiếng thờ Bà Chúa Thác Bờ.</li>
<li data-sourcepos="17:1-17:512"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> Hàng trăm năm qua, <strong>Đền Chúa Thác Bờ</strong> đã sừng sững nơi đây, tạc vào đá, tạc vào tim người câu chuyện về <strong>Bà Chúa Thác Bờ</strong> (Đinh Thị Vân – người Mường. Người nữ tướng tài ba đã kề vai sát cánh cùng <strong>Vua Lê Lợi</strong> dẹp giặc, rồi hóa thân hiển linh che chở cho muôn dân. Ngôi đền này không chỉ là nơi thờ cúng, mà còn là chứng nhân cho một thời kỳ dựng nước, giữ nước hào hùng của dân tộc, nơi truyền thống và tín ngưỡng giao hòa.</li>
<li data-sourcepos="18:1-18:320"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Chẳng phải ngẫu nhiên mà mỗi độ xuân về, hàng vạn người từ khắp nơi đổ về đây. Họ tin rằng, nơi đây là chốn linh thiêng bậc nhất, nơi mà <strong>Bà Chúa</strong> ban tài lộc, sức khỏe, bình an và cả những mối lương duyên thắm đỏ. Lời cầu nguyện thành tâm của người đời dường như đều được thấu tỏ, được linh ứng.</li>
<li data-sourcepos="19:1-19:206"><strong>Đền Chúa Thác Bờ Thờ Ai:</strong> Trung tâm là <strong>Bà Chúa Thác Bờ</strong>, và các vị thánh trong hàng tứ phủ... tạo nên một quần thể thánh thần uy nghi, trấn giữ vùng non nước.</li>
<li data-sourcepos="20:1-20:251"><strong>Phong cảnh:</strong> Cảnh đền tựa chốn bồng lai tiên cảnh. Bao quanh là sóng nước hồ Hòa Bình dập dềnh, núi non trùng điệp xanh biếc. Đến đây, ta như lạc vào cõi mơ, hít thở không khí trong lành, ngắm mây trời, sông nước, mọi ưu phiền dường như tan biến.</li>
<li data-sourcepos="21:1-22:0"><strong>Tháng Tiệc:</strong> <strong>Tháng Tiệc của Bà Chúa Thác Bờ</strong> diễn ra vào <strong>tháng Tư âm lịch</strong>, với <strong>chính tiệc là ngày 12 tháng Tư âm lịch</strong>. Đây là thời điểm linh thiêng nhất, với các nghi lễ trang trọng, rước kiệu, và các hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, thu hút hàng vạn lượt du khách và Phật tử từ khắp nơi về chiêm bái.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="25:1-25:72">2. Động Thác Bờ: Kỳ Quan Ẩn Mình Trong Lòng Đất, Nơi Linh Khí Hội Tụ</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831cbb702fab.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Động thác bờ</em></strong></p>
<ul data-sourcepos="27:1-34:0">
<li data-sourcepos="27:1-27:32"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Động Thác Bờ</strong>.</li>
<li data-sourcepos="28:1-28:143"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Nằm cùng khu vực với Đền Chúa Thác Bờ, trong lòng hồ Hòa Bình,Thuộc xã <span>Ngòi Hoa, Tân Lạc, Hòa Bình</span>.</li>
<li data-sourcepos="29:1-29:308"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> Động Thác Bờ là một kiệt tác của tạo hóa, được kiến tạo qua hàng triệu năm với những thạch nhũ lung linh, kỳ ảo. Nơi đây không chỉ là danh thắng, mà còn được người dân tâm niệm là một chốn tâm linh, nơi đất trời hòa quyện, tụ khí thiêng, tạo nên một không gian huyền bí đầy sức hút.</li>
<li data-sourcepos="30:1-30:286"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Bên trong động, những ban thờ uy nghiêm hiện hữu giữa vẻ đẹp kỳ vĩ của nhũ đá. Người ta đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng mà còn để cầu nguyện, để tìm thấy sự thanh tịnh trong tâm hồn giữa không gian huyền bí, cảm nhận rõ nét sự giao hòa giữa tự nhiên và tâm linh.</li>
<li data-sourcepos="31:1-31:166"><strong>Động Thác Bờ thờ ai:</strong> Các vị Phật, Quan Âm Bồ Tát, Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay uy nghi ngự trị, cùng các vị thần linh, mang đến sự che chở cho muôn dân, bên cạnh đó cũng phối thờ hệ thống tứ phủ.</li>
<li data-sourcepos="32:1-32:300"><strong>Phong cảnh:</strong> Bước vào động, ta như lạc vào thế giới khác. Những khối thạch nhũ lấp lánh như dát vàng, dát bạc, hình thù kỳ dị, kích thích trí tưởng tượng của mỗi người. Từ tượng Phật Quan Âm tới những "cửa trời" nhỏ bé, mỗi góc Động Thác Bờ đều ẩn chứa một vẻ đẹp riêng, vừa hùng vĩ vừa diễm lệ.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="37:1-37:91">3. Đền Cô Bé Thác Bờ: Nét Duyên Thiêng Liêng Giữa Sóng Nước</h3>
<ul data-sourcepos="39:1-46:0">
<li data-sourcepos="39:1-39:37"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Đền Cô Bé Thác Bờ</strong>.</li>
<li data-sourcepos="40:1-40:115"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Đền Cô Bé Thác Bờ cũng nằm trên lòng hồ Hòa Bình, tại xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.</li>
<li data-sourcepos="41:1-41:291"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> Theo tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ, Cô Bé Thác Bờ là một trong những vị thánh cô, hầu cận của Mẫu Thác Bờ. Ngôi đền thờ Cô Bé đã hiện hữu từ lâu, là nơi linh ứng cho những lời cầu xin giản dị, chân thành của người dân, đặc biệt là những khát khao về hạnh phúc gia đình.</li>
<li data-sourcepos="42:1-42:339"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Người ta truyền tai nhau rằng, <strong>Đền Cô Bé</strong> vô cùng linh thiêng, đặc biệt là trong việc <strong>cầu lộc, cầu duyên, cầu con cái</strong>. Những ai khao khát được đón tin vui, hay mong cầu một mối duyên lành, thường tìm về đây dâng hương, gửi gắm ước nguyện. Lòng thành kính được đền đáp, tạo nên niềm tin sâu sắc trong cộng đồng.</li>
<li data-sourcepos="43:1-43:131"><strong>Nhân vật được thờ cúng:</strong> <strong>Cô Bé Thác Bờ</strong> cùng các vị thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu, mang đến cảm giác gần gũi, chở che. Mặc dù theo dân gian thì đền cô bé thác bờ, tuy nhiên theo những gì tôi đọc trên các tấm hoành phi và ghi ngoài cổng thì nơi đây cũng Thờ Chính cung Chúa Thác Bờ và các vị Thánh Khác. Bên cạnh đó còn có đền Thờ Chúa Thác và Tượng đài Vua Lê Lợi.</li>
<li data-sourcepos="44:1-44:182"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền tọa lạc trên một vị trí đắc địa, phóng tầm mắt ra xa là non nước hữu tình, cảnh quan vừa thơ mộng vừa uy nghiêm, tạo nên một không gian thiêng liêng mà ấm cúng.</li>
<li data-sourcepos="45:1-46:0"><strong>Tháng Tiệc:</strong> <strong>Tháng Tiệc Đền Cô Bé Thác Bờ</strong> cũng diễn ra sôi động cùng mùa <strong>Tháng Tiệc của Bà Chúa Thác Bờ</strong> vào tháng Tư âm lịch, là dịp để các con nhang đệ tử và du khách thập phương về chiêm bái, dâng hương, cầu nguyện và tham gia các hoạt động văn hóa tín ngưỡng.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="49:1-49:70">4. Đền Đông Sơn: Hồn Cốt Làng Xã, Nơi Khí Thiêng Đất Việt Trấn Ngự</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831ca351e5df.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Cổng đền đông sơn</em></strong></p>
<ul data-sourcepos="51:1-58:0">
<li data-sourcepos="51:1-51:32"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Đền Đông Sơn</strong>.</li>
<li data-sourcepos="51:1-51:32" style="font-weight: bold;"><strong>Tên hán: 東山靈祠</strong></li>
<li data-sourcepos="52:1-52:68"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Núi đầu rồng, Khu 3, <span>TT. Cao Phong, Cao Phong, Hòa Bình</span></li>
<li data-sourcepos="53:1-53:373"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> <strong>Đền Đông Sơn</strong> là một chứng tích sống của lịch sử, một trong những ngôi đền cổ kính nhất vùng, thờ <strong>Chúa Bà Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công Chúa</strong> cùng chư vị tiên thánh của Thanh Sơn nhất phái. Đền đã trải qua bao biến thiên của thời gian, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn hồn cốt của một ngôi đền làng, nơi lưu giữ giá trị truyền thống qua bao thế hệ.</li>
<li data-sourcepos="54:1-54:303"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Người dân địa phương và du khách thập phương thường tìm đến Đền Đông Sơn để <strong>cầu bình an, may mắn</strong>, đặc biệt là <strong>cầu cho công danh, sự nghiệp và thi cử được hanh thông</strong>. Mỗi nén hương dâng lên là một lời nguyện cầu chân thành, được tin rằng sẽ đến tai các vị thần linh che chở.</li>
<li data-sourcepos="55:1-55:403"><strong>Thờ Cúng:</strong> <strong>Chúa Bà Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công Chúa</strong>, Tam vị Chúa Mường (<span class="citation-2 citation-end-2">Sơn Trang Đệ Nhất – Đệ nhất Thượng Ngàn Lê Mại Đại Vương, Sơn trang Đệ Nhị – Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công Chúa, Sơn Trang Đệ Tam – Đệ tam Thượng Ngàn Diệu Nghĩa Tàng Hình Sơn Trang Công Chúa),<sup _ngcontent-ng-c1993162508="" class="superscript" data-turn-source-index="1"><!----></sup></span> Tứ Tính Tổ Mường (họ Đinh, họ Cao, họ Quách, họ Bạch), cùng 8 tướng Sơn Trang và 12 cô tiên nàng.<sources-carousel-inline ng-version="0.0.0-PLACEHOLDER" _nghost-ng-c3613748038=""><source-inline-chips _ngcontent-ng-c3613748038="" _nghost-ng-c1709007275="" class="ng-star-inserted"><source-inline-chip _ngcontent-ng-c1709007275="" _nghost-ng-c3590013561="" class="ng-star-inserted"><!----><!----></source-inline-chip><!----></source-inline-chips><!----><!----><!----></sources-carousel-inline></li>
<li data-sourcepos="56:1-56:263"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền nép mình trong một khuôn viên rộng rãi, rợp bóng cây cổ thụ, tạo nên một không gian yên bình, thanh tịnh, tách biệt khỏi sự ồn ào của phố thị. Kiến trúc đền mang đậm nét truyền thống, mộc mạc mà trang nghiêm, gợi nhớ về những giá trị xưa cũ.</li>
<li data-sourcepos="57:1-58:0"><strong>Tháng Tiệc:</strong> <strong>Tháng Tiệc chính của Đền Đông Sơn</strong> thường được tổ chức vào <strong>ngày 12 tháng 9 âm lịch hàng năm</strong>. Đây là dịp để người dân tụ hội, tham gia các nghi thức truyền thống, các chương trình văn nghệ đặc sắc và trò chơi dân gian, tái hiện nét đẹp văn hóa lâu đời. Tuy nhiên trong hệ thống tứ phủ thì tháng 2 âm lịch hàng là là Tháng Tiệc Chúa, nơi đây cũng có rất nhiều các người đến lễ chiêm bái.</li>
</ul>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831cb1e20ef8.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em>Sự uy linh trong không gian thờ cúng đền đông sơn</em></p>
<h3 data-sourcepos="61:1-61:79">5. Đền Bồng Lai</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831c8a5720ec.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em><strong>Đền bồng lai</strong></em></p>
<ul data-sourcepos="63:1-70:0">
<li data-sourcepos="63:1-63:73"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Đền Bồng Lai</strong> (hay còn gọi là Đền Bồng Lai Cây Đa Bạc).</li>
<li data-sourcepos="64:1-64:127"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Tọa lạc tại <strong>thị trấn Cao Phong, huyện Cao Phong</strong>, tỉnh Hòa Bình (trước đây thuộc xã Bồng Lai, Kim Bôi).</li>
<li data-sourcepos="65:1-65:349"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> <strong>Đền Bồng Lai</strong> là một ngôi đền cổ có lịch sử lâu đời, gắn liền với truyền thuyết về một <strong>cây đa cổ thụ linh thiêng, hàng trăm năm tuổi</strong>, sừng sững như một người chứng kiến, che chở cho ngôi đền và cho cả vùng đất. Đền thờ các vị thần linh và Mẫu, được người dân địa phương rất tôn kính, là nơi hội tụ linh khí đất trời.</li>
<li data-sourcepos="66:1-66:308"><strong>Sự linh thiêng:</strong> <strong>Đền Bồng Lai</strong> nổi tiếng linh ứng trong việc <strong>cầu lộc, cầu bình an</strong>, và đặc biệt là <strong>cầu duyên, cầu tự</strong>. Những cặp vợ chồng hiếm muộn, hay những người mong tìm được ý trung nhân, thường tìm về đây với niềm tin mãnh liệt, mong cầu sự hiển linh của các vị thần và của cây đa cổ thụ.</li>
<li data-sourcepos="67:1-67:199"><strong>Thờ cúng:</strong> Đền Bồng Lai thờ Chính Cung Cô Bé Thượng Ngàn, một trong những vị thánh rất hay ngự đồng, ngoài ra đền còn thờ các Các vị thần linh, Mẫu, và đặc biệt là sự hiển linh của <strong>cây đa cổ thụ</strong> – biểu tượng của sự bền vững, trường tồn, và mang đến những điều kỳ diệu cho những ai thành tâm. Đền Bồng Lai </li>
<li data-sourcepos="68:1-68:184"><strong>Phong cảnh:</strong> Không gian đền được bao trùm bởi màu xanh mát của cây đa cổ thụ, tạo nên vẻ cổ kính, u tịch nhưng không kém phần trang nghiêm, giúp tâm hồn người thăm được lắng đọng.</li>
<li data-sourcepos="69:1-70:0"><strong>Tháng Tiệc:</strong> <strong>Tháng Tiệc Đền Bồng Lai</strong> thường diễn ra vào <strong>ngày 2 tháng 2 âm lịch hàng năm</strong>. Đây là một sự kiện tâm linh truyền thống quan trọng, với nghi lễ rước Cô Đôi Thượng Ngàn đi tuần du từ đền Bồng Lai sang đền Đông Sơn cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc sắc, thu hút hàng nghìn du khách tham dự.</li>
</ul>
<p>Đền Đông Sơn và Đền Bồng Lai nằm trong khu vực linh thiêng núi đầu rồng, nơi đây cũng có nhiều thần tích cũng như địa điểm thăm quan và lễ bái:</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831c9cf951e4.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em><strong>Phong Sơn Động - Thờ Chúa Đệ Tam Diệu Nghĩa Tàng Hình thuộc quần thể đền Bồng Lai</strong></em></p>
<ul>
<li><strong>Hoa Sơn Thạch động:</strong> gây ấn tượng với những hoa nhũ đá</li>
<li><strong>Động Không Đáy:</strong> đúng như tên gọi, bên trong hang có hố sâu không thấy đáy</li>
<li><strong>Động Thiên Thai:</strong> thờ Đệ nhất Thượng Ngàn Lê Mại Đại Vương hay còn gọi là Bà chúa Thượng Ngàn.</li>
<li><strong>Phong Sơn Động:</strong> thời phụng Đệ tam Thượng Ngàn Diệu Nghĩa Tàng Hình Sơn Trang công chúa hay còn gọi là Bà chúa Ngòi.</li>
<li><strong>Nhãn Long Sơn động: </strong>bên trong động có hai giếng nước như hai mắt rồng.</li>
<li><strong>Hang động nước: </strong>Hang Nước, Động Thanh Thủy</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="78:1-78:75">6. Đền Mẫu Đầm Đa: Huyền Thoại Quốc Mẫu Âu Cơ, Di Tích Khảo Cổ Quốc Gia</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831c713dc464.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<ul data-sourcepos="80:1-89:0">
<li data-sourcepos="80:1-80:104"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Đền Mẫu Đầm Đa</strong> (hay còn gọi là Quần thể di tích và danh thắng Đầm Đa, Đền Mẫu Âu Cơ).</li>
<li data-sourcepos="81:1-81:93"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Xã Phú Vinh, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình (trước đây thuộc xã Phú Lão).</li>
<li data-sourcepos="82:1-84:349"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> <strong>Đền Mẫu Đầm Đa</strong> không chỉ là một ngôi đền, mà là cả một quần thể di tích lịch sử - văn hóa - tâm linh rộng lớn, bao gồm nhiều hang động huyền bí, đền thờ uy nghiêm và chùa chiền cổ kính. Nơi đây được công nhận là <strong>di chỉ khảo cổ học cấp Quốc gia</strong>, lưu giữ nhiều dấu tích của người Việt cổ trong các hang động như động Tiên, hang Hồ (động Người xưa). Đền Mẫu Đầm Đa đặc biệt gắn liền với truyền thuyết về <strong>Quốc Mẫu Âu Cơ</strong>, người mẹ khởi nguồn của dân tộc Việt Nam. Theo truyền thuyết, Đế Minh (cháu ba đời của Đế Viêm) có con trai Lộc Tục (Kinh Dương Vương) cai quản phương Nam. Kinh Dương Vương lấy con gái Long Thần là Động Đình Quân sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau đó kết duyên cùng Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành 100 người con trai, là thủy tổ của người Việt. Mẫu Âu Cơ sau khi hoàn thành sứ mệnh đã quay về trời, để lại cho hậu thế lòng biết ơn sâu sắc và triết lý về tình mẫu tử, tinh thần đoàn kết. Ngôi đền Mẫu Đầm Đa ban đầu được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn truyền thống, sử dụng vật liệu tranh tre nứa lá. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, kể cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một số công trình trong quần thể bị hư hại. Tuy nhiên, đền đã được tu sửa và xây dựng lại kiên cố hơn vào năm 1994 và 1999, vẫn giữ được nét cổ kính, trang nghiêm.</li>
<li data-sourcepos="85:1-85:278"><strong>Sự linh thiêng:</strong> Quần thể Đầm Đa vô cùng linh thiêng, được tin rằng có thể <strong>ban bình an, sức khỏe, tài lộc</strong>, và đặc biệt là <strong>cầu phúc cho gia đình</strong>, con cháu. Mỗi lời khấn nguyện thành tâm dâng lên Quốc Mẫu đều được thấu tỏ, mang đến niềm an ủi và hy vọng cho muôn dân.</li>
<li data-sourcepos="86:1-86:285"><strong>Nhân vật được thờ cúng:</strong> Trung tâm là <strong>Quốc Mẫu Âu Cơ</strong>, cùng với các vị thần linh, Phật, và các nhân vật trong truyền thuyết như Mẫu Long, Quan Hoàng Bảy, Quan Hoàng Mười, Cô Chín, Tam Toà Thánh Mẫu… tạo nên một không gian đa tín ngưỡng, nơi các giá trị tâm linh được hòa quyện.</li>
<li data-sourcepos="87:1-87:361"><strong>Phong cảnh:</strong> Đầm Đa là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ với núi non trùng điệp, những hang động kỳ vĩ ẩn chứa bao điều bí ẩn (như <strong>động Đầm Đa, động Ông Hoàng, động Tam Tòa, động Thủy Tiên, động Cung Tiên, động Hoàng Mười, động Cô Chín</strong>...). Cảnh quan hữu tình, thơ mộng, tạo nên một không gian tâm linh vừa hùng vĩ vừa thanh bình, cuốn hút lòng người.</li>
<li data-sourcepos="88:1-89:0"><strong>Tháng Tiệc:</strong> <strong>Tháng Tiệc Đầm Đa</strong> là một trong những sự kiện tâm linh lớn nhất của tỉnh Hòa Bình, kéo dài từ <strong>mùng 1 tháng Giêng đến hết tháng Ba âm lịch</strong> (đặc biệt là lễ khai hội Chùa Tiên vào mùng 4 Tết và có thể kéo dài đến hết tháng 4 âm lịch). <strong>Tháng Tiệc</strong> thu hút hàng vạn lượt du khách, Phật tử và tín đồ về chiêm bái, tham gia các hoạt động văn hóa tâm linh đặc sắc, tái hiện những nét đẹp truyền thống.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="85:1-85:73">7. Đền Niệm: Nơi Lắng Đọng Thời Gian, Thờ Tam Vị Chúa Mường</h3>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831c83c3ca5f.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Đền Niệm - Thờ Tam Vị Chúa Mường</em></strong></p>
<ul data-sourcepos="87:1-94:0">
<li data-sourcepos="87:1-87:28"><strong>Tên Đền:</strong> <strong>Đền Niệm</strong>.</li>
<li data-sourcepos="88:1-88:119"><strong>Vị trí địa lý:</strong> Nằm tại <strong>thôn Phú Thành, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình</strong>, không xa quần thể Đầm Đa.</li>
<li data-sourcepos="89:1-89:387"><strong>Lịch sử minh chứng:</strong> <strong>Đền Niệm</strong> là một ngôi đền cổ kính, đã chứng kiến bao đổi thay của vùng đất Lạc Thủy. Đền thờ chính là <strong>Tam Vị Chúa Mường</strong>, những vị thần có công lớn trong việc khai phá, cai quản và bảo vệ vùng đất Mường, được người dân tôn kính như những vị thần bản địa. Ngôi đền này không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là biểu tượng cho văn hóa, tín ngưỡng của người Mường.</li>
<li data-sourcepos="90:1-90:260"><strong>Sự linh thiêng:</strong> <strong>Đền Niệm</strong> được người dân địa phương rất tôn kính, tin rằng đây là nơi linh thiêng để <strong>cầu bình an, may mắn</strong> và bày tỏ lòng thành kính với các vị thần đã che chở cho mảnh đất này, đặc biệt là cầu cho mùa màng bội thu, bản làng yên ấm.</li>
<li data-sourcepos="91:1-91:183"><strong>Nhân vật được thờ cúng:</strong> Chính cung thờ <strong>Tam Vị Chúa Mường</strong>, cùng các vị thần linh khác trong tín ngưỡng dân gian, tạo nên một không gian linh thiêng đậm bản sắc dân tộc Mường.</li>
<li data-sourcepos="92:1-92:142"><strong>Phong cảnh:</strong> Đền có kiến trúc truyền thống, nằm trong không gian yên tĩnh, trang nghiêm, mang đậm dấu ấn kiến trúc và văn hóa địa phương.</li>
<li data-sourcepos="93:1-94:0"><strong>Tháng Tiệc:</strong> <strong>Tháng Tiệc Đền Niệm</strong> thường diễn ra vào <strong>mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm</strong>, là dịp để người dân địa phương thể hiện lòng biết ơn và tham gia vào các hoạt động văn hóa truyền thống của vùng đất, mang đậm bản sắc văn hóa Mường.</li>
</ul>
<h3 data-sourcepos="97:1-97:49">Thông Tin Hữu Ích Cho Chuyến Du Hành Tâm Linh</h3>
<p data-sourcepos="99:1-99:92">Để hành trình chiêm bái của quý vị thêm phần thuận lợi, xin mách nhỏ một vài điều cần thiết:</p>
<ul data-sourcepos="101:1-114:0">
<li data-sourcepos="101:1-106:0">
<p data-sourcepos="101:3-101:18"><strong>Về Đường Đi:</strong></p>
<ul data-sourcepos="102:5-106:0">
<li data-sourcepos="102:5-102:261"><strong>Đến Đền Chúa Thác Bờ, Động Thác Bờ, Đền Cô Bé Thác Bờ:</strong> Quý vị cần di chuyển bằng thuyền/tàu từ <strong>bến cảng Thung Nai (Cao Phong, Hòa Bình)</strong> hoặc <strong>cảng Bích Hạ (Phú Thọ)</strong>. Chuyến đi trên hồ sẽ là một trải nghiệm tuyệt vời, ngắm cảnh non nước hùng vĩ.</li>
<li data-sourcepos="103:5-103:138"><strong>Đến Đền Đông Sơn:</strong> Nằm ngay trong thành phố Hòa Bình, rất thuận tiện di chuyển bằng taxi, xe ôm hoặc xe buýt nội thành từ bến xe.</li>
<li data-sourcepos="104:5-104:137"><strong>Đến Đền Bồng Lai:</strong> Nằm ở thị trấn Cao Phong. Quý vị có thể đi xe khách về thị trấn Cao Phong, sau đó đi taxi hoặc xe ôm đến đền.</li>
<li data-sourcepos="105:5-106:0"><strong>Đến Đền Mẫu Đầm Đa và Đền Niệm:</strong> Cả hai đều nằm ở huyện Lạc Thủy và không cách xa nhau. Quý vị có thể đi xe khách về <strong>thị trấn Chi Nê (Lạc Thủy)</strong>, sau đó đi taxi hoặc xe ôm đến các đền. Nếu đi xe riêng, từ Hà Nội, quý vị đi theo quốc lộ 1A đến Hà Nam, sau đó rẽ vào quốc lộ 21B hoặc các tuyến đường tỉnh lộ để đến huyện Lạc Thủy.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="107:1-109:0">
<p data-sourcepos="107:3-107:32"><strong>Về Tuyến Xe Buýt/Xe Khách:</strong></p>
<ul data-sourcepos="108:5-109:0">
<li data-sourcepos="108:5-109:0"><strong>Từ Hà Nội:</strong> Quý vị có thể bắt xe khách đi Hòa Bình, Kim Bôi hoặc Lạc Thủy tại các bến xe lớn như <strong>Mỹ Đình, Giáp Bát</strong>. Sau khi đến bến xe tỉnh/huyện, quý vị tiếp tục di chuyển bằng taxi, xe ôm hoặc xe buýt địa phương đến các điểm tham quan.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="110:1-114:0">
<p data-sourcepos="110:3-110:22"><strong>Lưu Ý Chân Tình:</strong></p>
<ul data-sourcepos="111:5-114:0">
<li data-sourcepos="111:5-111:115">Khi viếng đền, chùa, xin quý vị hãy chọn trang phục lịch sự, kín đáo, thể hiện sự tôn trọng chốn linh thiêng.</li>
<li data-sourcepos="112:5-112:100">Giữ gìn vệ sinh chung, không xả rác bừa bãi để giữ gìn vẻ đẹp và sự thanh tịnh của nơi thờ tự.</li>
<li data-sourcepos="113:5-114:0">Trong mùa <strong>Tháng Tiệc</strong>, lượng khách thập phương rất đông. Quý vị nên chủ động đặt trước các dịch vụ vận chuyển và lưu trú để có một chuyến đi trọn vẹn, tránh tình trạng quá tải.</li>
</ul>
</li>
</ul>
<p data-sourcepos="115:1-115:331">Hòa Bình không chỉ là danh thắng, mà còn là miền đất của những câu chuyện tâm linh, của những ngôi đền linh thiêng ẩn mình giữa đại ngàn. Mỗi chuyến đi là một lần trở về với cội nguồn, để lắng nghe lời thì thầm của đất trời, và cảm nhận sự linh ứng nhiệm màu. Quý vị đã sẵn sàng cho chuyến hành trình tâm linh đầy ý nghĩa này chưa?</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội): Nơi Linh Thiêng và bí ẩn pho tượng bất hoại 400 năm</title>
<link>https://tuvidonga.com/chua-dau</link>
<guid>https://tuvidonga.com/chua-dau</guid>
<description><![CDATA[ Bạn đã bao giờ cảm thấy một sự thôi thúc mạnh mẽ muốn tìm về những chốn xưa cũ, nơi lắng đọng hồn thiêng của đất Việt? Nếu có, hãy cùng tôi khám phá chùa Đậu – một viên ngọc quý ẩn mình nơi vùng quê yên bình của Thường Tín, Hà Nội, nơi thời gian dường như ngừng trôi và những câu chuyện huyền bí vẫn còn vang vọng. ]]></description>
<enclosure url="http://img.youtube.com/vi/2AJLvd1CYhA/hqdefault.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Sat, 24 May 2025 11:18:12 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>chùa đậu, thường tín, hà nội</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p data-sourcepos="7:1-7:318">Bạn đã bao giờ cảm thấy một sự thôi thúc mạnh mẽ muốn tìm về những chốn xưa cũ, nơi lắng đọng hồn thiêng của đất Việt? Nếu có, hãy cùng tôi khám phá <strong>chùa Đậu</strong> – một viên ngọc quý ẩn mình nơi vùng quê yên bình của Thường Tín, Hà Nội, nơi thời gian dường như ngừng trôi và những câu chuyện huyền bí vẫn còn vang vọng.</p>
<ul jscontroller="M2ABbc" jsaction="jZtoLb:SaHfyb" data-hveid="CB8QAQ" data-ved="2ahUKEwjL6p3ejruNAxWjka8BHQwkCeYQm_YKegQIHxAB">
<li class="K3KsMc">
<div class="zMgcWd dSKvsb" data-il="">
<div data-crb-p="">
<div class="xFTqob">
<div class="Gur8Ad"><span data-huuid="8068545243581935515"><span><strong>Vị trí: </strong></span><span></span></span><span data-huuid="8068545243581935416"><span>Chùa Đậu nằm tại thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội.</span><span class="UV3uM"> </span></span></div>
</div>
</div>
</div>
</li>
</ul>
<p data-sourcepos="9:1-9:422">Nằm nép mình giữa những hàng cau xanh mướt và lũy tre làng, <a href="https://tuvidonga.com/chua-dau"><strong>chùa Đậu</strong></a>, hay còn gọi là <strong>Pháp Vũ Tự</strong>, không chỉ là một ngôi cổ tự với kiến trúc độc đáo mà còn là một chứng nhân lịch sử, văn hóa, lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc của người dân Kinh Bắc xưa. Bước chân qua cánh <strong>cổng tam quan cổ kính</strong> rêu phong, bạn sẽ cảm nhận ngay được bầu không khí trang nghiêm, tĩnh lặng, khác hẳn với nhịp sống hối hả bên ngoài.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683136c786fcd.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="13:1-13:524">Chùa Đậu không chỉ đơn thuần là một địa điểm tôn giáo mà còn là một phần ký ức, một niềm tự hào của người dân Thường Tín nói riêng và Hà Nội nói chung. Với lịch sử hình thành lâu đời, gắn liền với những câu chuyện huyền bí và những giá trị văn hóa độc đáo, ngôi chùa này luôn có một sức hút kỳ lạ đối với những ai mong muốn tìm về cội nguồn tâm linh. Hàng năm, không biết bao nhiêu lượt khách hành hương, du khách thập phương đã tìm đến đây để chiêm bái, cầu an và khám phá những bí ẩn ẩn chứa trong từng nếp ngói, hàng cột.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683136fd2cb66.jpg" alt="Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội): Nơi Linh Thiêng Nương Bóng Cây Trụ Đá Ngàn Năm" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="870" height="517"></p>
<p data-sourcepos="15:1-15:126"></p>
<h2 data-sourcepos="19:1-19:33">Dấu Ấn Lịch Sử và Huyền Thoại</h2>
<p data-sourcepos="21:1-21:380">Chùa Đậu được xây dựng từ <strong>thời nhà Lý (thế kỷ XI)</strong>, trải qua nhiều lần trùng tu và mở rộng qua các triều đại Trần, Lê, Nguyễn. Tên gọi "chùa Đậu" xuất phát từ tục thờ <strong>Pháp Vũ (Thần Mưa)</strong>, vị thần quan trọng trong nền văn hóa lúa nước của người Việt xưa. Theo truyền thuyết, ngôi chùa được xây dựng trên một khu đất thiêng, nơi có thể cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683138255fcb4.jpg" alt="" width="838" height="1116" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="25:1-25:689">Những câu chuyện kỳ bí về chùa Đậu không chỉ dừng lại ở đó. Người dân địa phương còn lưu truyền những giai thoại về sự linh ứng của các pho tượng Phật, về những hiện tượng kỳ lạ từng xảy ra trong khuôn viên chùa. Đặc biệt, chùa Đậu nổi tiếng với <strong>hai pho tượng xá lợi toàn thân</strong> độc đáo. Đây là nhục thân của hai vị hòa thượng trụ trì tiền bối là <strong>Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường</strong> đã đắc đạo, được bảo tồn nguyên vẹn một cách tự nhiên sau khi viên tịch. Sự hiện diện của hai pho tượng xá lợi này không chỉ là một kỳ tích hiếm có mà còn là minh chứng sống động cho quá trình tu tập khổ hạnh và công đức viên mãn của các vị chân tu, khiến ngôi chùa càng thêm phần linh thiêng và huyền bí.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683137953f3d2.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="27:1-27:178"></p>
<p data-sourcepos="29:1-29:267">Giá trị lịch sử và văn hóa của chùa Đậu là vô cùng to lớn. Nơi đây không chỉ là trung tâm Phật giáo quan trọng của vùng mà còn là nơi lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, phản ánh đời sống tâm linh và trình độ chế tác của người Việt xưa.</p>
<h2 data-sourcepos="33:1-33:45">Vẻ Đẹp Kiến Trúc và Không Gian Thanh Tịnh</h2>
<p data-sourcepos="35:1-35:278">Kiến trúc chùa Đậu mang đậm phong cách nghệ thuật <strong>thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII-XVIII)</strong>, với bố cục đăng đối, hài hòa. Các công trình chính như tam quan, tiền đường, thượng điện, nhà tổ... được kết nối với nhau một cách logic, tạo nên một không gian khép kín, trang nghiêm.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831385ad4aa8.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p style="text-align: center;"><em>Chùa đậu với nét cổ kính 2000 năm</em></p>
<p data-sourcepos="39:1-39:307">Điểm đặc biệt trong kiến trúc chùa Đậu chính là hệ thống tượng pháp độc đáo, đặc biệt là <strong>pho tượng  (tượng Pháp Vũ)</strong> được tạc bằng gỗ mít với vẻ đẹp hiền từ, phúc hậu. Các pho tượng khác như tượng Hộ Pháp, tượng La Hán cũng được chạm khắc tỉ mỉ, tinh xảo, thể hiện tài năng của các nghệ nhân xưa.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_6831394666d5a.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="43:1-43:387">Cảnh quan thiên nhiên xung quanh chùa cũng góp phần tạo nên sự linh thiêng và thanh tịnh. Những hàng cây cổ thụ tỏa bóng mát, những khóm hoa rực rỡ theo mùa, cùng với không gian yên tĩnh của làng quê, tạo nên một bức tranh hài hòa, dễ chịu. Đặc biệt, <strong>cây trụ đá sừng sững</strong> ngay trước sân chùa được cho là đã có tuổi đời hàng trăm năm, chứng kiến bao thăng trầm lịch sử của ngôi cổ tự.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_683139e147779.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="45:1-45:121"></p>
<p data-sourcepos="47:1-47:270">Khi bước chân vào không gian bên trong chùa, bạn sẽ cảm nhận rõ rệt sự tĩnh lặng, thanh bình. Tiếng chuông chùa ngân nga, mùi hương trầm thoang thoảng, cùng với ánh sáng dịu nhẹ len lỏi qua những khung cửa, tạo nên một bầu không khí trang nghiêm, giúp tâm hồn lắng đọng.</p>
<h2 data-sourcepos="51:1-51:53">Nguồn Năng Lượng Tâm Linh và Trải Nghiệm Đáng Nhớ</h2>
<p data-sourcepos="53:1-53:248">Chùa Đậu không chỉ là nơi thờ tự các vị Phật, Bồ Tát mà còn là nơi người dân tìm đến để cầu bình an, may mắn cho gia đình và người thân. Tín ngưỡng thờ Pháp Vũ tại chùa thể hiện ước vọng về một cuộc sống no đủ, mưa thuận gió hòa của người nông dân.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68313ad811bfd.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="55:1-55:92"></p>
<p data-sourcepos="57:1-57:265">Sức mạnh tâm linh của chùa Đậu càng được khẳng định qua sự tồn tại kỳ diệu của hai pho <strong>xá lợi toàn thân</strong> nói trên. Đây là minh chứng rõ nét cho sự tu hành đắc đạo và uy lực của Phật pháp, thu hút hàng ngàn tín đồ và du khách đến chiêm bái, mong cầu sự ban phước.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68313b061838d.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="59:1-59:88"></p>
<p data-sourcepos="61:1-61:244">Đến với chùa Đậu, nhiều người cảm nhận được sự an yên trong tâm hồn, những lo toan, muộn phiền dường như tan biến. Không gian tĩnh lặng và linh thiêng của chùa giúp con người tìm lại sự cân bằng, hướng đến những điều thiện lành trong cuộc sống.</p>
<p data-sourcepos="63:1-63:288">Khi tham quan chùa Đậu, du khách có thể tham gia các hoạt động như lễ bái, dâng hương, chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo, tìm hiểu về lịch sử và các câu chuyện huyền bí của chùa. Đặc biệt, việc được tận mắt chứng kiến hai pho xá lợi toàn thân là một trải nghiệm tâm linh sâu sắc và khó quên.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68313b3a9c4da.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="65:1-65:105"></p>
<p data-sourcepos="67:1-67:432">Thời điểm lý tưởng để ghé thăm chùa Đậu là vào mùa xuân hoặc mùa thu, khi thời tiết mát mẻ, dễ chịu. Tuy nhiên, vào các dịp lễ hội Phật giáo hoặc ngày rằm, mùng một âm lịch, chùa thường đón một lượng lớn khách hành hương. Khi tham quan chùa, du khách nên ăn mặc lịch sự, kín đáo, giữ gìn trật tự và tôn trọng không gian linh thiêng. Bạn cũng có thể mua một vài món quà lưu niệm nhỏ mang đậm dấu ấn của chùa tại các gian hàng gần đó.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/202505/image_870x_68313ba24c454.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p data-sourcepos="69:1-69:115"></p>
<p data-sourcepos="71:1-71:455">Chùa Đậu không chỉ là một di tích lịch sử, văn hóa quý giá mà còn là một điểm đến tâm linh đầy ý nghĩa. Nơi đây lưu giữ những dấu ấn của thời gian, những câu chuyện huyền thoại và những giá trị tinh thần sâu sắc của dân tộc. Sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ kính, cảnh quan thanh tịnh, không khí linh thiêng và đặc biệt là sự hiện diện của <strong>hai pho xá lợi toàn thân</strong> đã tạo nên một sức hút đặc biệt, lay động trái tim của bất kỳ ai đặt chân đến đây.</p>
<h2 data-sourcepos="71:1-71:455">Lễ Hội Chùa Đậu</h2>
<p data-sourcepos="5:1-5:266">Lễ hội Chùa Đậu thường diễn ra trong 3 ngày, từ ngày <strong>mùng 8 đến mùng 10 tháng Giêng âm lịch</strong> hàng năm. Tuy nhiên, ngay từ mùng 1 Tết, người dân đã tấp nập đến chùa vãn cảnh, cầu an. Càng gần chính hội, du khách từ khắp nơi đổ về chiêm bái, thưởng ngoạn càng đông.</p>
<p data-sourcepos="7:1-7:23"><strong>Ý nghĩa và Đặc sắc:</strong></p>
<ul data-sourcepos="9:1-16:0">
<li data-sourcepos="9:1-9:225"><strong>Ý nghĩa tâm linh:</strong> Lễ hội là dịp để người dân thể hiện lòng thành kính, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, sức khỏe và bình an cho gia đình. Chùa Đậu nổi tiếng linh thiêng, được coi là nơi "cầu được ước thấy".</li>
<li data-sourcepos="10:1-10:380"><strong>Lịch sử và kiến trúc:</strong> Chùa Đậu là một ngôi cổ tự với kiến trúc "Nội công ngoại quốc" cổ xưa, đậm nét dân gian. Chùa lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật của các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ 2 pho tượng toàn thân xá lợi của thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, là những di vật quý giá mang nhiều bí ẩn về tâm linh và khoa học.</li>
<li data-sourcepos="11:1-14:216"><strong>Hoạt động chính:</strong>
<ul data-sourcepos="12:5-14:216">
<li data-sourcepos="12:5-12:208"><strong>Lễ rước kiệu:</strong> Đây là một trong những hoạt động đặc sắc nhất. Tương truyền, nếu kiệu của làng nào xoay tít hơn các làng còn lại thì cả năm dân chúng trong làng đều ấm no, sung túc, gặp nhiều may mắn.</li>
<li data-sourcepos="13:5-13:67"><strong>Nghi thức cúng bái, dâng hương, tụng kinh và cầu bình an.</strong></li>
<li data-sourcepos="14:5-14:216"><strong>Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật dân gian:</strong> Bao gồm các tiết mục hát quan họ, trò chơi dân gian (như đánh đu, đấu vật, thả diều), và chợ phiên truyền thống bày bán đồ thủ công, thực phẩm, vật phẩm tâm linh.</li>
</ul>
</li>
<li data-sourcepos="15:1-16:0"><strong>Giá trị văn hóa:</strong> Lễ hội không chỉ là nghi lễ nông nghiệp tiêu biểu mà còn là hoạt động văn hóa dân gian đậm bản sắc quê hương vùng Kinh Bắc, thể hiện sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người.</li>
</ul>
<p data-sourcepos="17:1-17:147">Lễ hội Chùa Đậu là một điểm đến thu hút đông đảo Phật tử và du khách, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam.</p>
<p data-sourcepos="75:1-75:351">Hãy một lần tìm về chùa Đậu, để lắng nghe tiếng chuông ngân vọng giữa không gian tĩnh lặng, để cảm nhận sự bình an trong tâm hồn và khám phá những bí ẩn ẩn chứa trong ngôi cổ tự ngàn năm tuổi này. Chuyến đi đến chùa Đậu chắc chắn sẽ là một trải nghiệm đáng nhớ, một hành trình tìm về cội nguồn tâm linh và khám phá vẻ đẹp văn hóa độc đáo của đất Việt.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Mất Vía là gì &#45; Biểu hiện và cách hóa giải</title>
<link>https://tuvidonga.com/mat-via</link>
<guid>https://tuvidonga.com/mat-via</guid>
<description><![CDATA[ tìm hiểu về hiện tượng mất vía và cách hóa giải những người bị mất vía, đây là hiện tượng tâm linh có thật, ai tin thì đọc không bỏ qua ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635a8b689021.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:09:43 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>mất vía</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<div class="x11i5rnm xat24cr x1mh8g0r x1vvkbs xtlvy1s x126k92a">
<div dir="auto">
<p>Trong đời ta ai chắc cũng nghe câu này:</p>
<p>Ba hồn bẩy vía vía lành thì ở vía dữ thì đi...</p>
<p>Rồi bản thân chúng ta không thể phủ nhận những hiện tượng mà dân gian các cụ từ xưa đúc kết ví như:</p>
<p>Bị một ai đó át vía (đặc biệt nhìn rõ nhất là hai vợ chồng).</p>
<p>Cũng không phủ nhận có những người vía dữ , vía lành, có những người vía may vía xui.</p>
<p>Những hiện tượng có người bán hàng đang ế ẩm nhưng chỉ cần người vía may lành sờ vào là bán chạy như tôm tươi. Và ngược lại có người sờ vào là có vấn đề...</p>
<p>Có những người vía dữ hơn đi đâu gặp ai là người đó rắc rối thậm chí buôn bán làm ăn ế ẩm, có những người gặp đứa trẻ con cũng phải vía...</p>
<p>Và càng không phủ nhận rất nhiều người mất vía.</p>
<p>Quan niệm vía của con người là phách, nam có 7 phách và nữ có 9 phách (9 với nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, còn không chỉ có 7).</p>
<p>Vía (phách)  liên quan mật thiết với thần hồn của con người. Khi phách (vía) bị ảnh hưởng thì cuộc sống đảo lộn, thần hồn nhiễu loạn.</p>
<p>Các cụ ta xưa có câu: “mày như thằng/con mất vía...”</p>
<p>Thực ra không hề có khái niệm “mất vía” bởi vía không mất đi đâu cả mà chỉ bị tách ra khỏi con người bởi một lí do nhất định. Hoặc bị phong bế ẩn hình không phát.  Người bị tách mất một phần vía hoặc phong bế 1 phần vía thì sẽ bị gọi là mất vía.</p>
<p>Theo đông y xưa những đứa trẻ bị thảng thốt hoảng loạn là phải vía....</p>
<p>Hoặc khi yêu bị người bỏ.... khi xẩy ra vấn đề gì đó cũng thẫn thờ ... vía nhược hoặc gặp sự cố dẫn đến sang trấn tâm lý làm nhược vía cũng là một thể của bệnh này...</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635a8b670470.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="635" height="685"></p>
<h2>Nguyên nhân mất vía là gì</h2>
<p>- Vong linh hoặc Tà ác tác động làm sợ hãi lâu ngày sinh mất vía</p>
<p>Bằng cách gây sự sợ hãi tột độ liên tục để làm 1 phần vía bị áp chế ẩn và không liên kết với tam hồn cũng có trường hợp bị tách ra hoặc mất liên kết  dần dần khỏi con người. Đến khi đó thì tà sẽ nhập vào người trần để làm việc chúng mong muốn.</p>
<p>Hoặc vong tà  âm thầm tác động......</p>
<p>Chỉ vong dữ hoặc tà ác có pháp lực mới làm được việc này, còn vong bình thường hiếm khi có năng lực lớn áp chế phách hoặc đẩy được vía người trần ra, chủ yếu chỉ tác động tâm lý khiến người trần nhiễm âm, suy sụp, mộng mị, tinh thần suy kém trở nên “yếu vía” và tác động suy nghĩ, tâm thức khiến người trần nói ra, làm ra những điều mình muốn hoặc chỉ dẫn họ đến nơi mình cần.</p>
<p>Khác với trường hợp người bản thân yếu vía, những người căn số (căn âm) dễ bị nhiễm âm hoặc vong nhập.</p>
<p>(Nên nhớ người bị dọa sợ hãi đột ngột hay bị nói là “sợ mất vía” là lúc đó 1 phần vía bị tác động khiến thần hồn cũng bị ảnh hưởng sinh cảm giác thẫn thờ, sợ sệt, thậm chí lo lắng nhiều ngày vì nỗi sợ đó khắc vào thần hồn... chứ vía không bị tách ra.)</p>
<p>- Động chạm, báng bổ quỷ thần bị giữ vía:</p>
<p>Những nơi hang sâu rừng núi, nơi sông suối luôn có thần linh cai quản</p>
<p>Hoặc lam sơn chướng khí đất dữ có những vong linh âm tà hoặc loài cây, loài vật lâu năm thành quỷ, linh hồn bám trụ nơi đất đó.</p>
<p>Khi một người đi qua có thể vô ý bẻ cây hái cành, chặt phá, hoặc xúc phạm nơi linh hồn quỷ đó cư ngụ khiến quỷ linh (lâu năm, có pháp lực) tức giận đeo bám hoặc bắt giữ vía.</p>
<p>Hoặc người cố ý, vô ý báng bổ quỷ thần, ô uế nơi thờ thần, ăn trộm ăn cắp đồ thờ... bị hành sai phạt bắt nhốt vía.</p>
<p>- Bị bùa/ngải/chài... khiến bị trói vía :</p>
<p>Việc đi lên những vùng  cao hay luyện các phép bùa ngải, chài và vô ý bị trúng là việc không còn xa lạ. Đến nay phép này vẫn bị 1 số người trẻ lợi dụng, khiến không nhất thiết phải lên vùng đất đó vẫn bị bùa chài bình thường. Phổ biến là bùa yêu/ chài yêu, ngải yêu .</p>
<p>Một số trường hợp bùa bùa ngải khiến người bị bùa ngải sinh ốm đau thậm chí thổ huyết, chết. Đây là dạng khác, không trói vía.</p>
<p>Một số trường hợp bẩm sinh sinh ra bị thiếu vía, trẻ dễ đần độn, hành động quái dị, ngô nghê. Đây là bẩm sinh chứ không phải bị mất vía. Không thay đổi được.</p>
<p>Hoặc nhiều trẻ sinh ra tăng động cũng là một loại vía bị tác động bẩm sinh.</p>
<p> Gia đình có thể cho các cháu học tại những ngôi trường giáo dục đặc biệt để rèn luyện thể phách và sinh hoạt....</p>
<p>- Hoặc một số trường hợp dùng các chất hướng thần (mai Thúy) hoặc bị sự cố tác động lớn về tâm lý, cũng sinh nhược vía.</p>
<p>- Đặc biệt: Người có căn đồng</p>
<p>+ Trốn không ra trình đồng hoặc bỏ hầu hạ nhiều năm bản mệnh không yên dễ bị trì vía (gần như bị ẩn vía), sinh thẫn thờ, mệt mỏi, tinh thần bất an, mất tỉnh táo.... là do vong tà thừa cơ tác động.</p>
<p>+ Người có đồng mà lỗi đồng, phạm luật, làm sai động chạm âm dương dễ bị hành sai bó vía  hoặc âm tà đeo bám trì vía (cũng tương tự trói vía).</p>
<h2>Biểu hiện thường gặp người bị mất vía</h2>
<p>- Chân tay lạnh, thường xuyên ra mồ hôi, mất ngủ, mơ mộng ảo giác</p>
<p>- Tâm lý sợ hãi, ủ dột, lo lắng thường trực ... nhiều trường hợp điên loạn</p>
<p>- Mệt mỏi, xanh xao, người gầy guộc, mắt u ám thất thần</p>
<p>- Đột ngột ốm hoặc nằm liệt không tìm ra nguyên nhân, nói năng nhiều từ ngữ mang tính tâm linh (nhìn thấy người chết, nhìn thấy ai đến đòi nợ, thấy tà quỷ...)</p>
<p>- Trường hợp do sự cố trong cuộc sống thì thường kích phát mong muốn ở mặt này....</p>
<p>- Trường hợp bị bùa ngải bị trói vía thì ốm đau, thẫn thờ, bỏ  ăn uống không rõ nguyên cớ, hoặc cứ về ở với người chài mình thì sống bình thường ăn uống ngủ nghỉ như thường còn cứ xa người đó thì điên loạn, ốm đau...</p>
<p>- Con mắt là cửa sổ thần hồn đa phần người nhược vía mất vía ..... ngoài tâm tính thất thường thì con mắt đều dại đi hay còn gọi là thất thần.</p>
<h2>Cách hóa giải</h2>
<p>- Trường hợp trẻ nhỏ gặp người vía dữ dẫn đến thảng thốt bỏ ăn khóc quấy....có thể đốt vía theo dân gian.</p>
<p>-  Trường hợp trẻ bị đằng âm trêu hoặc quấy phá về đêm có thể xin áo dấu của nhà đền mặc hoặc để con dao dưới gối hoặc  xin mảnh vải đỏ phủ diện hô thần tượng Pháp Phật Thánh về may áo gối hoặc buộc vào tay,  nặng nữa thì đeo bùa hoặc bán khoán vào của Đức Thánh Trần hoặc Đức Ông trong chùa hoặc trong điện Thần Tứ Phủ.</p>
<p>Nếu áp dụng các biện pháp trên không hết lại tăng nặng thì phải làm lễ ví như: các khoa Thánh Mẫu bảo đồng nhi khoa, Quan Âm hộ đồng tử khoa, Trần Triều bảo trợ đồng nhi khoa...</p>
<p>- Người lớn hay bị quấy phá về đêm thảng thốt  nếu bị tà làm sợ hãi lâu ngày sinh nhược vía, ẩn vía ... mất vía: Làm lễ cúng  lên Thành Hoàng bản cảnh hoặc điện thần tứ phủ xin kéo vía, gọi vía về lại cơ thể. Một số trường hợp phải đeo thêm bùa hoặc dùng bùa trấn áp tà quỷ tại nơi sống 1 thời gian để vía hoàn về và phục hồi lại ổn định, không bị tà đeo bám nữa.</p>
<p>- Nếu do vô tình động chạm báng bổ quỷ thần bị giữ vía: Sửa lễ cúng và xin chuộc vía tại nơi có hành động báng bổ hoặc tại nơi đền thờ Thần cai quản nơi đó hoặc tại Đền Thánh (xin chư Thánh giang tay cử hành sai làm việc với vị thần đang giữ vía để chuộc vía lại cho người).</p>
<p>Còn nếu cố ý thì phải biết sai biết thành tâm dâng lễ sám hối, vừa phải tu sửa đền đài thờ phụng kính cẩn, dần dần mới được gỡ ra. Nếu vẫn giữ tâm báng bổ thì trăm ngàn lễ bái cũng không khỏi được.</p>
<p>- Do bị bùa ngải trói vía:  Việc bị trói vía này do con người làm ra và là người có pháp (dù là tà pháp)  nên nguyên tắc phải làm lễ giải vía và phải là thầy cao tay hơn thầy đã làm bùa ngải kia thì mới giải được. Còn không sẽ bị phản phệ lại.</p>
<p>- Trường hợp gặp sự cố dẫn đến tán phách, thất thần, ẩn vía thì gia đình có thể tìm nguyên nhân để tháo gỡ. Nếu không thì nên tìm bác sỹ tâm lý để phục hồi.</p>
<p>- Trường hợp do dùng các chất ... mai thúy thì nên đi điều trị ...... từ bỏ chất đó...</p>
<p>Thường thì người bị mất vía sẽ được đưa đến nơi chuộc vía, gọi vía để thầy đồng /thầy pháp/ thầy tào/ thầy mo... trực tiếp làm lễ. 1 số trường hợp bị mất vía thể nhẹ thì có thể mang quần áo của người mất vía đến để làm lễ, sau khi lễ xong quần áo này được mang về nhà và mặc cho người mất vía để xin vía về.</p>
<p>Người mất vía sau khi được làm đúng lễ và đúng pháp đúng thầy thì sẽ dần dần hồi phục.</p>
</div>
</div>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Bệnh âm, Hành âm là gì &#45; Biểu hiện, nguyên nhân và cách hóa giải</title>
<link>https://tuvidonga.com/benh-am-hanh-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/benh-am-hanh-am</guid>
<description><![CDATA[ Hiện nay quá nhiều người chỉ vì bị “Bệnh Âm” hoặc bị hành âm lại lầm tưởng mình căn sâu quả nặng dẫn đến tìm thầy ra trình đồng làm cuộc sống đảo lộn. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635abfc53dc9.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:09:11 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>bệnh âm, hành âm</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Hiện nay quá nhiều người chỉ vì bị “Bệnh Âm” hoặc bị hành âm lại lầm tưởng mình căn sâu quả nặng dẫn đến tìm thầy ra trình đồng làm cuộc sống đảo lộn.</p>
<p>Lại có những kẻ cứ thấy người ta bị âm âm dương dương, ảo giác mơ mộng không tìm ra bệnh là phán luôn có căn  rồi bày trò làm lễ giải căn... rồi đủ các lễ lạt khác mà bệnh càng thêm bệnh. Bởi những thầy dởm này không tìm ra được bản chất, chỉ làm bừa.</p>
<p>Vậy nên tôi viết bài này nhằm mục đích cho các bạn bị bệnh âm hiểu mà cân nhắc trước khi tìm thầy.</p>
<p>Trong cuộc sống ta ắt hẳn đã nghe đến “ bệnh âm, hành âm” hoặc bị “ma hành”, bị “ma làm”...</p>
<p>Bệnh âm có thể hiểu là bệnh không rõ nguyên nhân.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635abfc31b0e.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="693" height="520"></p>
<h2>Biểu hiện người bị hành âm (bệnh âm)</h2>
<p>Hành âm (bệnh âm) có thể theo nhiều hình thức, thường thấy:</p>
<p><strong>- TH1</strong>: Bệnh tư tưởng: Người bị hành âm thường loạn ảo, mê man, hay gặp ảo giác, thường xuyên nghe tiếng xúi giục, đôi khi thúc làm những điều bất bình thường, quái dị, hoặc những lời kêu gọi, khẩn khoản cho đến đe dọa, nạt nộ, mỉa mai... Những ảo giác và các tiếng nói, tiếng thì thầm luôn xuất hiện từ lúc thức đến lúc ngủ và đặc biệt là lúc đêm khuya...,</p>
<p>Việc này kéo dài khiến người bị hành âm sinh tâm lý sợ hãi, lo lắng, căng thẳng gia đình, vãi vã, mệt mỏi suy kiệt..., tâm tính trở nên không ổn định, thường xuyên mất kiểm soát...</p>
<p>Tuy nhiên đa phần với hình thức bệnh tư tưởng này, người bị bệnh chỉ 3 phần là do âm tác động và bị hành âm thật còn 7 phần là do tự mình suy nghĩ sinh ảo tưởng và kéo dài thành bệnh.</p>
<p> Ví dụ: Sống gần nghĩa địa mà gia đình lục đục, xáo trộn nghĩ ngay do ma hành, nghe tiếng gọi nửa đêm nghĩ ngay do ma trêu không dám ngủ... Khi chuyển đi chỗ khác dù đất chỗ mới vẫn âm đấy nhưng tinh thần cho rằng nơi mới không gần nghĩa địa tốt hơn nên yên tâm hơn và bệnh dần tự khỏi.</p>
<p>Mới chia tay người yêu và chưa tìm được người khác thì hay mơ mộng thấy người cũ, hay nghe như có lời thúc giục nghe ngóng về người cũ, xem FB người cũ xem họ thế nào... rồi tự mất ăn mất ngủ, mệt mỏi tâm lý... Khi có người yêu mới tự khắc người cũ sẽ trở thành dĩ vãng, tâm lý dần tốt lên.</p>
<p>Còn những trường hợp bị bệnh tư tưởng nếu do âm phần tác động, phải triệt tận gốc mới có thể có chuyển biến.</p>
<p><strong>- TH2: </strong> Tác động trí não: Khiến người bị hành âm trở nên lù đù, chậm tư duy, hành động bất thường, một số người bị âm hành trở nên điên điên dại dại, trẻ thì câm điếc tự kỷ hoặc chậm nói, tư duy kém...</p>
<p><strong>- TH3:</strong> Tác động cơ thể sinh bệnh: ốm đau quặt quẹo, không hấp thụ được thức ăn, dương khí kém..., người xanh xao vàng vọt thậm chí suy kiệt cơ thể... Nhiều người còn bị hành âm như bị đánh trên cơ thể, sau khi ngủ dậy cơ thể đau nhức, có các vết thâm tím, các vết cào hoặc nổi mẩn đỏ, mề đay... ngứa ngáy thậm chí lở loét khắp người, tức ngực trì trệ..., có những trường hợp cả một khu vực cả một làng xã cùng 1 căn bệnh đó, biểu hiện đó...</p>
<p>Đi khắp các bệnh viện hoặc không tìm ra nguyên nhân hoặc dùng đủ các thuốc vẫn không khỏi.</p>
<p>Lúc này, dù muốn hay không muốn người ta bắt buộc phải nghĩ đến việc mình, gia đình mình, làng xã mình đang bị “hành âm” và phải tìm đến tâm linh để chữa trị.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635acea31aff.jpg" alt="duyên âm" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="690" height="368"></p>
<p><strong>TH4:</strong> Một dạng nữa là bệnh âm khi ngủ</p>
<ol>
<li>thường bị bóng đè, bị một đối tượng hay nhiều đối tượng đè trong mơ, thậm chí có trường hợp đêm mơ sinh hoạt TD với 1 đối tượng âm</li>
<li>Thường mơ thấy xà tinh, hổ quái, thú quái... đuổi bắt hay quấn thân</li>
<li>Thường mơ thấy bị giết trong một trường hợp nhất định, mơ thấy bị thế lực hay cá nhân không biết rõ là ai... đánh đập, hãm hại...</li>
</ol>
<h2>Nguyên nhân dẫn đến bị hành âm (Bệnh âm)</h2>
<p>* Nhiễm âm lâu ngày (sống trên đất âm khí nặng, đi đến nơi âm khí)...</p>
<p>* Oan gia đòi nợ, tà tinh tác quái, nơi oán khí lớn...</p>
<p>Nhiều trường hợp oan gia theo đòi nợ nghiệp báo (thường là huyết nghiệp) của 1 gia đình dòng họ trong nhiều kiếp nhiều đời, khiến cho con cháu gia đình đó (thường là con trai) bị hành âm: Điên dở, ốm đau, lác mắt hoặc khiến chết yểu, vô tự...</p>
<p>Cá biệt những nơi đất có oán khí quá lớn như nơi xưa là pháp trường, nơi lãnh cung, nơi chết đuối hay hồ ao có người chết đuối bị lấp, nơi từng dùng người sống làm pháp tế... Những nơi này vong mang oán khí sâu nặng không thể đi đâu được và nếu ai chẳng may sống tại nơi đất này, nhẹ thì bị âm ám sức khỏe tinh thần trì trệ, vợ chồng không có con, ly hôn...  nặng thì điên dại, chết non chết yểu tự tử thậm chí sát hại nhau. (Luôn có sự lặp lại với bất cứ ai sống tại nơi đất đó).</p>
<p>* Động âm mạch gia tiên (hành theo khí huyết)</p>
<p>Mồ mả gia tiên bị động khiến con cháu nội ngoại đều bị ảnh hưởng. Đặc biệt những ngôi mộ của các cụ tam đại, tứ đại bị động có thể khiến gia đình các con cháu (trưởng dòng, trưởng chi, trưởng họ) lụi bại, bệnh tật, bị âm hành theo. Nếu gia đình dòng họ có người có căn số hoặc đang theo hầu Thánh thì sẽ bị tác động nặng nề.</p>
<p>Trường hợp này âm hành do khách quan và cả chủ quan.</p>
<p>+ Khách quan là do dòng khí huyết, động mạch âm phần gia tiên thì ảnh hưởng đến phúc phần con cháu cả dòng họ.</p>
<p>+ Chủ quan là khi âm phần bị động, gia tiên chủ động tìm đến con cháu tác động “hành” để con cháu biết tìm về tâm linh mà giải quyết việc động mồ động mả này.</p>
<p>* Động âm phần, mạch âm đất, động chạm vong đất..., động chạm thờ cúng của làng xã...</p>
<p>Thường thấy khi xây dựng sửa nhà không có cúng bái cẩn thận, gây động âm phần nơi ở. Hoặc xây dựng nhà vệ sinh nước thải uế tạp lên trên nơi có mồ mả hoặc hài cốt tiền chủ, vong đất... khiến họ oán hận. Sinh “hành hạ” người dương, vừa để cảnh cáo vừa để muốn người dương biết bệnh mình là về âm phần, lo mà tìm cách xử lý.</p>
<p>Hoặc nhiều trường hợp nơi thờ cúng của cả tập thể (đình làng) đất đai bị động hoặc thờ cúng có chếch lệch, sửa sang phạm lỗi, hướng đình phạm, xây dựng phá hoại đình làng, chiếm đất đền phủ... thì âm phần cả khu vực đó sẽ bị đảo lộn, các hộ gia đình trong khu vực được Thành Hoàng đó bảo hộ sẽ có vấn đề.</p>
<p><strong>* Giai đoạn cơ hành:</strong></p>
<p>Với người có căn số nhưng đang trong giai đoạn cơ hành chưa tìm được nơi gửi gắm đúng căn mệnh thì sẽ bị âm phần hành hạ là bình thường. Nguyên nhân cơ hành của người căn số ta đã biết.</p>
<p>Chỉ khi nào tìm được về đúng cung đúng cửa, ra trình đồng và an yên bản mệnh thì thoát cơ hành và cũng khỏi được hành âm (nếu có). Nhưng không phải cứ bị bệnh âm là chăm chăm khẳng định người này có căn số hay đang bị cơ hành. 8/10 trường hợp bị bệnh âm không có căn số, chớ ảo tưởng hay nghe thầy dởm lừa lọc vội vã làm lễ trình đồng mà thành lỗi.</p>
<p><strong>* Làm sai bị phạt:</strong></p>
<p>Nói lời báng bổ Thánh Thần, ăn cắp hoặc mua đồ ăn cắp của đền chùa miếu mạo...)..., cá biệt có những trường hợp người tu hành đạo sai bị các cụ hành sai hoặc người hộ đạo phạt: Đánh âm, trì tâm, sinh ốm đau liên miên, ảo giác...</p>
<p><strong>* Do lì mà bị phạt vạ:</strong></p>
<p>Không chịu làm việc phải làm, khất lần, trốn tránh...</p>
<p>Hành âm từ tâm trí đến cơ thể, từ mơ mộng báo đến đánh âm trực tiếp...</p>
<p>Những trường hợp lì mà bị phạt này đa phần do gia tiên hành âm con cháu hoặc gia tiên để mặc oan gia hành âm con cháu mình. Để thúc con cháu phải làm đúng việc mà gia tiên cho rằng cần phải làm mà con cháu ngang bướng không chịu nghe theo.</p>
<p>*Tiền duyên tiền kiếp.... nhân duyên , nghiệp duyên với các âm... theo vào đeo bám.</p>
<h2>Cách thoát khỏi hành âm (bệnh âm)</h2>
<p>- Nếu do nhiễm âm: Dùng các pháp trừ nhiễm âm  như bài đã viết – Tham khảo tại bài viết : "<a href="https://tuvidonga.com/nhiem-am">Nhiễm âm</a>"</p>
<p>- Nếu do lời nói hành động báng bổ, động chạm đền phủ miếu mạo, mua hoặc lấy đồ ăn cắp: Trả vật về nơi cũ; có lễ sám hối và cúng Thần Thánh tại đền phủ hẳn hoi chứ không nói suông, nhiều trường hợp báng bổ phá hoại đền phủ hoặc bắt bớ người hành đạo Thánh vô cớ thì còn phải mang tiền đi xây đền phủ, mang vật phẩm cúng tiến nơi đền phủ...</p>
<p>Phá 1 đền 10, đền 100; bắt bớ người hành chính đạo thì tự bản thân gia đình con cái sẽ bị phạt vạ, bị hành âm đến khi tự biết sai mà sửa, sám hối và có trường hợp gia tiên tấu đối để người đó tự đi theo đạo Thánh, học đạo hành đạo trả nợ nghiệp đã gây.</p>
<p>- Động chạm long mạch, tiền chủ, thần đất, nơi thờ cúng chung: Cúng điền hoàn long mạch, bùa trấn an thổ địa...</p>
<p>Nếu nơi thờ cúng (Đền phủ, đình làng) bị phạm thì phải điều chỉnh lại cho đúng về dương phần, cúng bái tạ lỗi với Thành Hoàng để xin an yên lại âm phần nơi đó...</p>
<p>Một số trường hợp động chạm đúng vào tử huyệt nơi đất hoặc bản chất đất có huyệt âm (tập trung nhiều vong dữ, 1 năm chắc chắn sẽ có lấy mạng vài người dương ở trên đất) thì chỉ có cách đi nơi khác, không nên bám trụ lại.</p>
<p>- Trẻ em bị sinh vào giờ xấu, giờ phạm: cúng giải giờ phạm, bán khoán vào cửa Đức ông, nếu có căn thì tôn nhang bản mệnh xin được bảo trợ.</p>
<p>- Động âm phần gia tiên: Tìm thầy soi xem động âm phần vì lí do gì mới tháo gỡ được.</p>
<p>- Oan gia đòi nợ hoặc tà tinh tác quái...:</p>
<p>+ Nếu do tà tinh tác quái thì dùng các phép trấn yểm lại đất ở, mang bùa theo người hoặc cúng hầu xin nhà Thánh bảo trợ.</p>
<p>Trong một số trường hợp cụ thể có thể phải nhờ các thầy đồng pháp cúng các khoa: âm dương đối khám, âm dương tụng đình, giải tà tinh quái mị khoa, giải xà tinh khoa, giải quái nhương mộng mị khoa, giải hổ quái khoa, giải tinh quái khoa tổng... tiên Thánh cứu bệnh khoa, Phật Thánh giải quái bệnh khoa</p>
<p>Nếu là trẻ nhỏ bị hành âm có thể mang bán khoán vào cửa Đức Ông, Đức Thánh Trần, hoặc cúng các khoa Quan âm hộ đồng tử khoa, tiên Thánh hộ đồng tử khoa..., Tiên Thánh Bảo trợ đồng tử khoa...</p>
<p>+ Nếu do oan gia đòi nợ: Làm đối khám âm dương, vời vong oan gia lên hỏi rõ nợ nần tại sao, muốn đòi hoặc trả nợ thế nào mới chịu buông. Sau đó ký vào khế ước và thực hiện trả nợ đúng theo thỏa thuận.</p>
<p>+ Nếu là tiền duyên tiền kiếp thì cúng giải cắt...</p>
<p>Nhiều trường hợp oán kết nghiệp báo quá dày, gia đình mang huyết nghiệp lớn với oan gia và oan gia không chấp nhận cúng bái hay làm lễ để hòa giải thì bắt buộc phải chịu nghiệp. Khi trả hết thì thôi.</p>
<p>Nếu trong dòng họ có người tu đạo, có hành đạo cứu bách gia và tạo được phúc đức, công đức lực đủ lớn thì sẽ ngăn chặn được 1 phần nào nghiệp kết bám vào người thân, gia đình dòng họ (trong 1 phạm vi nào đó thân cận với người tu đạo) chứ không phải bảo hộ được tất cả.</p>
<p>+ Nếu là người có căn số và bị cơ hành: Tìm thầy soi căn và nếu đúng là có căn số mới ra trình đồng xin an yên bản mệnh. Bệnh sẽ khỏi dần dần. Nhắc lại: cùng biểu hiện bệnh âm nhưng 80% không phải do căn số.</p>
<p><strong>- Nếu người có đạo, hành đạo sai mà bị phạt:</strong></p>
<p>Cần biết mình sai ở đâu, tạo nghiệp gì, sám hối và làm đủ mọi cách sửa sai. Chấp nhận chịu cơ hành (tài chính/tình cảm/ sức khỏe...) một thời gian. Tự điều chỉnh làm việc đúng phép tích được phúc và công đức lực dần dần sẽ có chuyển biến.</p>
<p>Làm sai sinh nghiệp chỉ có lấy phúc để bù hoàn (bù hoàn cho người bị gây nghiệp, gia tiên người bị gây nghiệp). Không làm gì sinh được phúc đức thì cúng bái vô tác dụng.</p>
<p><strong>- Do lì lợm mà bị hành âm:</strong></p>
<p>Việc hành âm này thường do gia tiên làm và tác động đến con cháu mình. Không có pháp nào áp chế mà giải quyết được. Phải tự người bị hành kêu cầu với gia tiên của mình xin hồi tâm chuyển ý hoặc tự mình thay đổi không lì lợm ngang bướng nữa, làm theo gia tiên sắp xếp, hoặc 1 số trường hợp (có tu đạo) xin với thầy đạo đứng ra có lời dàn xếp với gia tiên để gia tiên nương tay hoặc khất cho 1 thời gian</p>
<p>Cá biệt xin gia tiên tìm người khác gánh vác việc gia tiên mong muốn. Khi tìm được người thay thế tự khắc việc hành âm sẽ được gỡ bỏ. </p>
<p><em><strong>Nhưng lưu ý: Quyền lợi và trách nhiệm luôn đi liền với nhau.</strong></em></p>
<p>Nếu gia tiên giao nhiệm vụ cho ta (đương nhiên có hành âm nhưng cũng có bảo hộ ta, không gia tiên nào hành hạ con cháu mình cho vui cả) mà ta thoái thác mãi không làm, đến khi gia tiên tìm được người khác thay thế thì mọi phúc quả của dòng họ sẽ dồn về cho người kia để người đó thực hiện nhiệm vụ. Ta phải chấp nhận tự đương đầu với mọi khó khăn, nghiệp báo, oan gia kéo đến sau đó (nếu có).</p>
<p>Đa phần bệnh âm đều có thể hầu Thánh để phân định âm dương, vỗ vong trục tà khảo đả phân định âm dương... bảo trợ nhân sinh... nhưng phải cậy sở được đúng thầy biết pháp, hiểu pháp và làm đúng pháp. Nếu không thì tác dụng ngược, oan gia tà tinh... thêm oán, hành bệnh càng nặng nề hơn.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: Thầy Trần</em></p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Đồng Nổi là gì, Đồng nổi có phải ra trình đồng?</title>
<link>https://tuvidonga.com/dong-noi</link>
<guid>https://tuvidonga.com/dong-noi</guid>
<description><![CDATA[ ĐỒNG NỔI, ĐỒNG SỔI: Hai từ này ta đã nghe nhiều nhưng để hiểu thì không phải ai cũng biết. Đồng nổi/ đồng sổi ngày nay mọc lên như nấm sau mưa. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635aeaa40d17.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:08:36 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>đồng nổi</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>ĐỒNG NỔI, ĐỒNG SỔI: Hai từ này ta đã nghe nhiều nhưng để hiểu thì không phải ai cũng biết. Đồng nổi/ đồng sổi ngày nay mọc lên như nấm sau mưa.</p>
<p>Người người đồn nhau:</p>
<p>“cô đó cậu đó mới ra đồng là đồng nổi xem rất đúng, chữa được bệnh, bắt được tà... rất linh”</p>
<p>“đồng nổi lắm lộc, tiền vào như nước”</p>
<p> “đồng nổi được cha cắt mẹ cử làm việc Thánh, không phải trình đồng, chẳng cần theo thầy nào vẫn làm việc tốt”</p>
<p>“đồng nổi chỉ được một thời gian ngắn, mất lộc rất nhanh”</p>
<p>“ đồng nổi là ăn lộc vong ma, không nên đến...”</p>
<p>Đâu là ĐÚNG, đâu là SAI?</p>
<p>Nay viết 1 bài làm rõ vấn đề này.</p>
<p>“Đồng nổi” là từ thường được dùng để chỉ những người tự nhiên có dị năng về tâm linh như:</p>
<p> - Nhìn nghe cảm âm, gọi hồn, ngồi dí,  xem bói, chữa bệnh, trừ tà bắt vong...( mà có thiên hướng và gần giống với các đồng nhân tứ phủ)</p>
<p>- Tự nhiên biết kêu cầu cúng kiếng rất bài bản, rất lễ nghi phép tắc, thành thạo dù trước đó chưa từng biết đến việc tâm linh hay học qua khóa học nào về pháp cúng...</p>
<p>-  Tự nhiên biết viết đọc chữ sớ sách, ấn lệnh, vẽ bùa... hoặc học rất nhanh, nhìn qua đã nhớ đã hiểu, biết cách sử dụng hoặc được học, chỉ dẫn trong mơ và ban đầu khi làm việc có hiệu quả, giúp được bách gia...</p>
<p>- Tự nhiên nếu hợp với ai đó có thể soi bói hoặc nói dự đoán cho họ về quá khứ , tương lai .....</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635aeaa18faf.jpg" alt="đồng nổi" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="698" height="393"></p>
<h2>Dị năng của “đồng nổi” từ đâu mà có?</h2>
<p>Trước tiên gọi là”đồng nổi” thì phải có căn đồng.  Còn những người bởi những biến cố đặc biệt mà phát sinh dị năng (chết đi sống lại, ức chế thần kinh đến mức nào đó nhìn thấy âm vong...). Trường hợp không có căn đồng phát sinh dị năng khá hãn hữu và ta không đề cập trong bài viết này. </p>
<p>Dị năng của đồng nổi có được do đâu???</p>
<p>Thứ nhất là: Được cho dị năng (Cấp thấp - Cơ bản)</p>
<p>- Dị năng từ Gia tiên / oan gia: 99% là muốn người căn số biết mình có liên quan tâm linh, thúc tìm hiểu về tâm linh và sớm ra đồng nhập đạo cửa Thánh tu tập: Trả nợ oan gia, trả nợ gia tiên hoặc đưa đường giúp gia tiên nương vào cửa Thánh...</p>
<p>(Những người nghiệp dầy căn trọng... sát âm hay bị vong ma đeo ám ốp nhập... là hay rơi vào trường hợp này nhất)</p>
<p>- Từ: Vong /Tà/ chúa đất ..hạ  thần tại gia tại đất..., tiền chủ... thần tầu chết trên đất Việt....: Cho người căn số dị năng cấp thấp có thể vì hợp duyên, vì muốn người căn số sau này lập điện thờ cúng... để hưởng tín ngưỡng, hương hoa tài mã... hoặc cho dị năng để thúc người căn số biết mình có năng lực tâm linh, có căn số và sớm tìm hiểu về tâm linh, ra đồng hay lập điện phủ rồi từ đó theo chân người căn số xin nương tựa tu tập đạo Thánh... (có duyên ắt có nợ, đã cho dị năng ắt sẽ có sự đòi hỏi bù hoàn tương xứng....).</p>
<p><strong>- 1 số TH đặc biệt:</strong></p>
<p>Do sự thỏa thuận của người dương và người âm (trao đổi công bằng, người dương ký khế ước với người âm để có năng lực dị năng)</p>
<p>Hoặc vong linh ký khế ước với vị thần đất hoặc linh căn ....  hạ thần dã thần ....nào đó bản địa để xin năng lượng đủ vượt qua luân hồi, điều kiện thỏa thuận là khi được làm người sẽ tôn cấp lập thờ vị thần đất, linh căn đó... .</p>
<p>Như vậy người này khi sinh ra đã mang sẵn khế ước (có ký tá chứ không phải nói suông) với vong tiền kiếp. Dã thần ...thần tầu.. vong tầu... vong có tu luyện... tiền kiếp ......Vong này có năng lực (có thể có đạo) sẽ đi theo và lấy năng lực tự thân ban cho người ta dị năng, về sau người này bắt buộc phải lập nơi thờ cúng đúng như khế ước. Nếu không làm bản thân và gia đình sẽ gặp nhiều hậu quả nặng nề.</p>
<p>Thứ hai là: Tự phát dị năng</p>
<p>Tiền kiếp tu tập đã có đạo hạnh, có dị năng.... và kiếp này năng lực dị năng hoặc những kiến thức đạo, kiến thức tu tập hành đạo tiền kiếp được phát ra (hay được gọi là từ: A lại da thức). Trường hợp này là người căn sâu quả nặng hoăc nhân duyên lớn với cửa đình thần Tam tứ Phủ....  đã đến lúc phải biết mình có căn quả (dân gian còn gọi là bắt sát hay cơ đồng...)</p>
<p>Bỗng nhiên họ thấy năng lực dị năng, tự nhiên đọc hiểu rất nhanh khoa phạm cúng bái, thần chú... và nhớ rất nhanh, tự nhiên vẽ được bùa chú, tự nhiên có năng lực áp chế vong ma...</p>
<p>Nói là “tự nhiên” nhưng không có gì tự nhiên ở đây cả.</p>
<p>LƯU Ý: Nhà Thánh không ban dị năng cho người chưa cúi đầu nhập đạo.</p>
<p> “Đồng nổi” dù có bao nhiêu dị năng, đông người cậy sở đến đâu cũng chỉ có từ 2 nguồn trên chứ đừng nhận vơ là dị năng Thánh ban, là đang làm việc cho nhà Thánh hay ảo vọng mình là Con Thánh, con Thần....</p>
<p>Đặc biệt gần như 99% những kẻ ốp nhập xưng danh ông nọ bà kia Thánh Thần abc.... đều là vong tà gia tiên ốp nhập.</p>
<h2>Đồng nổi: Nhanh nở chóng tàn</h2>
<p>Đúng là đồng nổi thường đông khách, dễ và nhanh nổi tiếng bởi: họ nói nhiều, nói chi tiết, thường không đòi hỏi lễ lạt lớn, thường là những người trẻ tuổi... 1 đồn 10, 10 đồn trăm.... người ta kéo đến xem cho biết và cũng muốn nhanh nhanh chóng chóng đến xem trước khi người này bị “mất lộc”.</p>
<p>Bởi các cụ hay nói đồng nổi là “đồng sổi”: Nổi nhanh, tàn nhanh, dị năng mất đi nhanh.</p>
<p>Việc này cũng có lí do của nó:</p>
<p>+ Do đồng nổi phát sinh dị năng bất chợt, họ thường chưa biết phép hành đạo, dễ tùy ý làm việc mà không biết mình đang làm trái quy tắc gây động loạn âm dương.</p>
<p>+ Do làm việc cảm tính, ngẫu hứng,.... không hiểu được bản chất sâu xa của vấn đề (chỉ chữa biểu hiện mà không chữa được căn nguyên), có thể nói ra điều chưa nên nói, làm việc chưa nên làm.... một cách không chủ ý dễ gây thù với âm phần, hoặc bị vạ...</p>
<p>+ Năng lực được ban (cấp thấp) và năng lực tự thân (qua luân hồi) phát ra có hạn, thường chỉ 1 phần năng lực thực có ban đầu của tiền kiếp.... Khi dùng liên tục, giúp nhiều người cùng lúc khiến nguyên khí suy giảm, quá độ thì tâm thần loạn, không còn nhìn chuẩn, soi chuẩn, chữa chuẩn hay trị được tà quỷ nữa...  âm phúc tự thân hao hụt , huyền lực tự thân tản dã....</p>
<p>Nhưng vì nổi nhanh, vì tiền, danh quá sớm..., được người người tâng lên tận mây, cúi đầu lễ bái.... Đa phần khó tự thừa nhận bản thân đã mất năng lực. Tâm ham năng lực phát sinh (khác hẳn lúc ban đầu là không xin mà tự được cho, tự phát ra).</p>
<p>Lúc này tà quỷ lao vào ban cho năng lực để tiếp dẫn cậy sở cướp tín ngưỡng, âm phúc, bản nguyên... “đồng nổi” trở thành tay sai cho tà quỷ mà không hay biết.</p>
<p>+ Sinh nghiệp lớn: Nhiều người vẽ bùa chú dựa 99%  vào năng lực dị năng cấp thấp được ban để làm việc mà không qua học hành luyện pháp chính tắc hay từ nội lực tự thân  nào, lúc rõ lúc không, lúc mờ lúc ảo... dẫn đến vẽ sai làm thiếu trong hành pháp.</p>
<p>Ban đầu phần âm đứng sau lưng (gia tiên/ vong...) sẽ dùng năng lực từ âm phần nắn chỉnh sửa lại (vẽ bùa thiếu nét phần âm sẽ sửa lại nét đó rồi thần trú điểm linh ấn quyết gia trì thiên cang...... đều do đằng Âm thực hiện hộ.... trước khi ấn lệnh, .) nên bùa chú vẫn hiệu quả.</p>
<p>Sau quá nhiều lần mà người dương không sửa đổi hay học hỏi theo chính tắc hay không có năng lực tự thân thì phần âm không thể sửa được nữa, dẫn đến làm sai làm láo mà vẫn không biết. Sinh nghiệp đạo...</p>
<p>Nhiều trường hợp gia tiên vì con cháu lỡ “nổ” nhận giúp người này người kia mà làm không tới, hay những “bắt ma online”).... bản chất là  gia tiên phần âm phải chạy theo thay con cháu làm việc (bắt ma, trị tà, đàm phán âm dương...) đủ các việc. Rồi cũng không xuể với tự tự mãn tự cao, tự ảo tưởng càng tăng của con cháu mình. Đến khi năng lực gia tiên cạn kiệt mà con cháu vẫn không quy đầu nhập đạo để mà tu học chính tắc thì gia tiên cũng phải buông tay.</p>
<h2>“Đồng nổi” ở đâu mà NHIỀU vậy???</h2>
<p>- Xưa “đồng nổi” có là bởi những người căn cao số nặng nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn chưa ra hầu, gia tiên oan gia thúc giục để “ép” vào thế “cơ đồng” để bắt buộc phải ra cúi đầu nhập đạo và tu tập... hoặc căn cơ sâu dày tự phát dị năng để người căn số biết mà tìm đường về với đúng đạo. Và đến khi phải đến đường cùng không thể làm khác người ta mới ra đồng và theo thầy học đạo để sau này làm việc. Còn đa phần là chịu đựng cơ hành chứ không bao giờ “dám” tự ý làm việc, soi xét ầm ĩ... bởi sợ Thánh mà cũng sợ Nghiệp nữa.</p>
<p>- Nay đồng nổi nhiều, 3 phần vì âm dương loạn đảo còn 7 phần là tự ảo tự phong... Khó xác định...</p>
<p>Lắm kẻ không phải căn cơ đồng soi đồng bói ... thấy người ta xem bói cũng xem bói rồi lại nói bừa đoán bừa ăn may thì trúng, rồi được đưa đẩy người nọ tin người kia theo là cứ được đà.</p>
<p>Có kẻ cố tỏ ra ăn mặc phong cách điệu bộ cho giống thầy bà căn quả đồng bóng, cũng thể hiện, cũng xưng cô cậu đi xem bói xuyên đền phủ,  bắt vong online rồi kêu cầu các thứ, tự mua sách về cúng, bốc bát nhang, mua bùa về bán... có khi còn học lỏm mấy bài viết trên mạng đăng đàn giảng đạo cho bách gia như người am hiểu đạo học lâu năm, cha cắt mẹ cử ... Đó không phải là đồng nổi mà bản chất là đồng đú, đồng lừa.</p>
<h2>“Đồng nổi” có phải ra trình đồng?</h2>
<ul>
<li>Nguyên tắc: đồng nổi muốn hành đạo chính tắc phải xin ra nhập đạo cửa Thánh, phải tu phải tập, phải có nơi nương tựa về mặt tâm linh (Thánh cai bản mệnh).</li>
</ul>
<p>Muốn vào cửa Thánh nhập đạo phải có thầy đồng dẫn trình, được soi căn nối quả đúng căn mệnh, được gửi sổ lính về đúng cung đúng cửa, được đỡ bóng dẫn đồng. Không có chuyện “không thầy mà nhập đạo”, hay “không cần mã man, không cần nghi lễ trình đồng”... “tự nhà Thánh chứng”...: KHÔNG CÓ CHUYỆN ĐÓ.</p>
<p>Đó là lí lẽ của những kẻ ảo vọng và bị ma tà chi phối quấn thân.</p>
<p>Khối kẻ ảo và tự ảo đến mức: Tự chọc chum chóe, tự bắc ghế hầu Thánh, tự soi căn cho mình, hoặc tự ý tôn cấp lập thờ, tưởng là thờ Thánh nhưng thực sự là thờ ma tà.</p>
<p>Dù khi là linh hồn đã có khế ước với thần đất, thổ công hay 1 vị nào đó có năng lực...và hứa kiếp này tôn cấp lập thờ họ thì vẫn phải nhập đạo trình đồng cho an yên bản mệnh, an căn an số, sau đó mới xin phép lập thờ. Và chỉ được phép thờ ở ban bản cảnh hoặc lầu thờ bên ngoài điện thờ Thánh (cho dã thần, linh căn nương nhờ cửa Thánh cùng tu tập với đồng nhân, chịu phép Thánh cai quản), không thờ chính cung.</p>
<ul>
<li>LẠI NÓI:</li>
</ul>
<p>Có trường hợp đồng nổi sau khi biết đến cửa Thánh đạo, ra trình đồng xong không tiếp tục xem bói, gọi gồn, làm việc âm nữa hoặc 1 số không còn năng lực dị năng cũ, nhiều người gọi là bị “mất lộc”.</p>
<p>Không có gì bất ngờ hay phải lo lắng cả.</p>
<p>Bởi:</p>
<p>- Khi nhập đạo tu đạo biết phép hành đạo đúng quy tắc, chỉ làm việc cần làm, hữu duyên và cực kỳ hạn chế nói quá động chạm âm dương, làm rất ít hoặc tạm dừng... để tập trung tu tập tìm hiểu đạo và học thêm các quy tắc hành đạo, các kiến thức hỗ trợ: sách vở, khoa phạm, nguyên tắc cúng lễ, hay phương pháp áp chế ma tà, vẽ - luyện bùa chú....</p>
<p>- Họ kiềm chế năng lực dị năng và chỉ dùng đúng lúc đúng chỗ... sau khi được thầy cho phép, có khoa nghi chính tắc làm việc (từ sau đó sẽ là hành đạo pháp nhà Thánh, có thể được ban thêm năng lực dị năng cấp cao từ Chư Thánh...)</p>
<p>- Họ bị thu lại dị năng, gạt dị năng của ma tà ám tá, trước làm sai vướng nghiệp nay cải tà, tu tập, nay không làm sai nữa, tránh làm tiếp khi chưa đủ sự chuẩn bị, kiến thức, năng lực... Gọi là biết mình biết ta và biết việc.</p>
<p>- Gia tiên/oan gia ban cho năng lực tạm thời cấp thấp để biết về tâm linh, biết ra đồng tu tập. Nay đã như ý gia tiên/oan gia theo hỗ trợ, thúc đẩy tu tập chứ không ban dị năng nữa. Để đồng con tự tu tự rèn và khi có đạo hạnh sẽ phát ra năng lực dị năng tự thân tiền kiếp hoặc tu tốt được nhà Thánh giao việc, ban dị năng cấp cao hơn.</p>
<p>Nói là mất nhưng là ĐƯỢC, mà được lâu bền là vì vậy.</p>
<h2>Đồng nổi/ đồng sổi – Nên nhớ</h2>
<p>- Chớ vội vui mừng khi người người kéo đến cậy sở: Chả ai thương ta đâu, họ cứ được việc họ là xong. Nghiệp đạo, nghiệp với vong ma, nghiệp khuấy đảo âm dương... thế nào họ không quan tâm. Nếu ta cứ đâm đầu mà làm chỉ tội bản thân và gia chung dòng họ sau này gánh nghiệp. Gia tiên nào cố tình đi giúp, đi chữa cháy, chữa sai cho con cháu mình theo kiểu “hốt rác” cũng chỉ được năm ba bữa, rồi gia tiên cũng chịu tội theo.</p>
<p>- Sớm sớm thu xếp tìm thầy ra nhập đạo trình đồng, cúi đầu làm tôi cửa Thánh, cho an căn an mệnh, xin tu học và hành đạo cho đúng phép đúng lối. Chớ ngạo mạn ta đây có chút dị năng mà dễ sinh họa...</p>
<p>- Đã ra nhập đạo thì lo tu cho tốt, nếu căn cơ làm việc khi đã có khiến thức đạo tốt, công cụ hành đạo thành thạo, vững bóng vững mệnh... xin ý thầy ý thánh được chấp thuận làm việc thì hẵng làm, và phải làm cho đúng, cho quy củ chứ không tùy ý như lúc xưa đồng nổi.</p>
<p>- Nếu sau ra đồng mà mất đi dị năng chớ lấy đó làm buồn mà nên hiểu rõ nguyên nhân (mất là được), càng nỗ lực tinh thần rèn luyện, tu tâm dưỡng thần, học tập kiến thức đạo. Đủ duyên đủ đạo sẽ được cha cắt mẹ cử làm việc chính thống, không đi đâu mà vội.</p>
<p>Nếu “cơ duyên” được sắp xếp làm đồng dương đồng hầu (không phải làm việc âm nữa) cũng rất tốt, lo tập chung lễ nghi phép tắc, kiến thức đạo để: trên phát dương đạo Thánh, dưới lo chăm vẹn toàn gia chung cùng hương khói gia tiên, sống chân thiện mỹ đức...</p>
<p>Đồng dương đồng Hầu nếu làm tốt những việc này thường rất có lộc, cuộc sống và tu tập yên ả, vừa có tiến tu, vừa đỡ vất vả hơn đồng âm rất nhiều.</p>
<p>Căn thâm nghiệp dầy, trình đồng tu tập để lấy âm phúc cho gia tiên cho con cháu chứ không phải mang hết âm phúc ra để bán rẻ.</p>
<p>Tiền nhà Thánh có gai, danh nhà Thánh cũng không phải dễ lấy, không có rồi lại hết phúc mạt vận lại đổ cho căn quả.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: thầy trần</em></p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Nhiễm âm là gì, nguyên nhân và cách hóa giải</title>
<link>https://tuvidonga.com/nhiem-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/nhiem-am</guid>
<description><![CDATA[ Triết lý Á đông quan niệm mọi sự vật, mọi hiện tượng luôn có hai mặt mâu thuẫn và thống nhất, hỗ trợ và ức chế lẫn nhau để tồn tại, đó là hai mặt, hai thuộc tính căn bản âm và dương. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635b009004c4.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:07:54 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>nhiễm âm là gì</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Triết lý Á đông quan niệm mọi sự vật, mọi hiện tượng luôn có hai mặt mâu thuẫn và thống nhất, hỗ trợ và ức chế lẫn nhau để tồn tại, đó là hai mặt, hai thuộc tính căn bản âm và dương.</p>
<p>“Nhiễm âm” là hiện tượng khí âm xâm nhập vào cơ thể của con người làm mất đi sự cân bằng âm dương trong cơ thể, sinh ra những ảnh hưởng xấu lên cuộc sống, sức khỏe và cả vận mệnh, tài lộc của con người. Người có căn số đặc biệt là căn đồng âm rất hay bị hiện tượng này. Một số trường hợp khi bị nhiễm âm lâu dài và âm khí xâm vào bản mệnh sẽ sinh ra những hậu quả lớn, nhẹ thì bị mở luân xa dẫn đến ốp nhập mất kiểm soát, nặng thì ảnh hưởng đến cả bản mệnh sinh yểu mệnh. Bài viết hôm nay sẽ nói rõ hơn về vấn đề này.</p>
<p>Âm dương cân bằng là trạng thái lý tưởng của vũ trụ. Con người được coi là một tiểu vũ trụ, vì vậy sự vận hành của cơ thể người nếu thuận theo lẽ âm dương tự nhiên sẽ thuận, tức con người khỏe mạnh, tinh thần sung mãn, ngược lại sẽ bệnh tật, đau ốm, tinh thần bất an.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635b008e6164.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="707" height="399"></p>
<h2>Dấu hiệu cơ thể bị nhiễm âm</h2>
<p>- Đau đầu, tinh thần uể oải trầm xuống tương tự như các biểu hiện của bệnh trầm cảm</p>
<p>- Cơ thể lúc nóng lúc lạnh đột ngột, sởn gai ốc bất chợt, đêm thường ngủ mơ ác mộng.</p>
<p>- Hay buồn ngủ vào ban ngày nhưng lại khó ngủ và mất ngủ vào ban đêm</p>
<p>- Hốc mắt sâu, mắt thất thần, cơ thể bị bào mòn xanh xao, người khô kháo</p>
<p>- Hay bị bóng đè trong khi ngủ, đến khi tỉnh lại thì vô cùng mệt mỏi, đau nhức cơ thể.</p>
<p>- Cơ thể ớn lạnh như bị cảm, phong hàn hay bệnh gì đó nhưng đi khám bác sĩ lại không phát hiện ra bệnh gì, cũng không sốt ốm.</p>
<p>- Sức khỏe suy giảm, tinh thần bức bối, luôn cảm thấy bứt dứt trong người</p>
<p>- Hay suy nghĩ tiêu cực và bi quan nhiều lần trong ngày, khi hồi tỉnh lại thấy những suy nghĩ lúc trước của mình thật ấu trĩ, không hiểu sao mình nghĩ và làm vậy. Nhưng việc này lặp lại liên tục và thường xuyên khiến người ta không định hình được đâu mới đúng là suy nghĩ của mình.</p>
<p>- Đêm thức dậy nhiều lần như có người đánh thức, gọi tên mình, hay thích đi lang thang tới những chỗ vắng vẻ 1 mình</p>
<p>- Sợ đến những chốn linh thiêng đền, phủ, chùa, đặc biệt sợ nhìn lên tượng Thánh.  ( người có căn đồng thì khác chút cứ đến đền phủ đi lễ lại khỏe được chút)</p>
<p>- Sợ nhìn thẳng vào mắt đạo sư, pháp sư và người có đạo hạnh (( người có căn đồng thì lại thích nói chuyện và nghe thỉnh giảng với người có đạo hạnh)</p>
<p>- Sợ nghe, không thích nghe tiếng tụng kinh hoặc người ớn lạnh, chân tay run rẩy khi nghe. ( cũng có người có nhân duyên lại muốn nghe)</p>
<p>- Trẻ con hay ốm yếu bệnh tật, xanh xao, trẻ khóc thét dữ dội như bị đánh hoặc giật mình lúc đêm, thường là từ nửa đêm đến 3h sáng. Đôi mắt trẻ đờ đẫn và khi tỉnh dậy cũng hay giật mình sợ hãi.</p>
<p>Trẻ nhiễm âm nặng và thời gian lâu dài rất dễ sinh yểu mệnh.</p>
<p>- Trường hợp nhiễm âm lâu ngày đến mức nào đó có thể nghe được những tiếng truyền tai từ tà quỷ, những lời xui khiến, kêu gọi, dẫn dụ... tương tự như nghe tiếng nói bên trong mình... . Một số trường hợp dẫn đến hành động quá khích, thậm chí là giết người hoặc muốn tự sát.</p>
<p>- Và đặc biệt người nhẹ vía hay bị ốp nhập cũng là đối tượng bị tổn thương khi nhiễm âm nhất</p>
<h2>Nguyên nhân nhiễm âm</h2>
<p><strong>- Thứ nhất:</strong> Sống tại nơi có âm khí nặng</p>
<p>- Đất là nơi âm mạch hội tụ nhiều khí âm sát đại địa hoặc Mảnh đất xưa kia là nơi nghĩa địa lâu năm, nơi có nhiều mồ mả hoặc có người chết do chiến tranh loạn lạc, nơi từng có thảm họa chết chóc, nhiều lí do… Việc dưới nhà có mộ phần khá phổ biến vì nay đất chật người đông, từ đồng ruộng đến nghĩa địa đều bị san đi làm đất ở xây nhà cửa. Gần như 90% các nhà đều có mồ mả phía dưới đất ở nhà mình, các vong linh cũng có nhiều vong bám chấp vào đó và ở tại đất đó luôn (ông bà tiền chủ, vong tiền chủ).</p>
<p> (Đặc biệt những người bị tai nạn, hỏa hoạn, thảm họa, bị giết, tự tử,chết đuối, chết oan...khác khi chết không được làm lễ chiêu hồn, vẫn bám chấp tại nơi đất đó cùng sự oan khuất, căm hận chất chứa của mình sinh ra oán khí và âm khí lớn.)</p>
<p>Không phải vong nào cũng khiến người dương bị nhiễm âm. Chỉ những vong dữ mang âm khí tà khí mạnh và vong thường xuyên đi bên cạnh trêu quấy hoặc nằm bên cạnh người dương lâu ngày mới khiến tình trạng nhiễm âm xảy ra.</p>
<p>Đặc biệt trẻ nhỏ sinh ra trên những mảnh đất đó nếu hợp với vong là hay bị nhiễm âm  ( các cụ xưa thường bôi son đỏ lên ấn đường cho các bé để tránh phạm vía nhiễm ấm là vì vậy )</p>
<p><strong>- Thứ hai:</strong> Đi đến nơi có âm khí hội tụ: Tang lễ, nghĩa địa, lễ bốc mộ sang cát, những đang lễ cầu cúng, đàn độ âm, chiêu vong ...</p>
<p>+ Âm khí tại tang lễ rất cao, 1 phần hình thành từ tử khí và âm khí  người mới mất, phần còn lại là âm khí từ câu hồn xứ giả, âm khí từ thần trùng... Lượng âm khí lớn dồn nén 1 lúc này có thể ám lên những người đến viếng, đặc biệt những người yếu bóng vía hay người già bệnh, thai phụ...</p>
<p>+ Âm khí từ nơi nghĩa địa hay trong các lễ bốc mộ sang cát là âm khí tích tụ nhiều năm bởi số lượng đông đúc vong linh tập trung 1 chỗ. Đặc biệt, thời gian bốc mộ lại diễn ra vào lúc nửa đêm hoặc gần sáng, khi ánh nắng mặt trời vẫn còn chưa xuất hiện, đó là lúc giờ âm khí mạnh nhất.</p>
<p>+ Âm khí tại bệnh viện, các khu bảo quản thi hài. Những người vào viện điều trị bệnh trong thời gian dài cũng có thể bị âm khí xâm nhập. </p>
<p>+ Ở tại nhà hoang lâu năm, nhà không có người ở... và nhà ở bừa bộn không dọn dẹp ....</p>
<p>Những ngôi nhà ít có người sinh sống thường thiếu dương khí. Nhà bỏ hoang sẽ không có thổ công hay thần đất bảo hộ, vong dễ dàng làm loạn.</p>
<p><strong>- Thứ 3:</strong> Tự bản thân chiêu vong ma âm khí</p>
<p>+ Bị động chiêu âm (do bản nguyên) : Những người bản nguyên sát âm (Sinh giờ sát âm; sinh nơi âm khí lớn; âm khí đại địa hun đúc lúc hình thành bào thai hoặc lúc được sinh ra (ngẫu nhiên), hoặc căn cơ đồng nhân có năng lượng bản nguyên lớn).... tất cả khiến cho người này sinh ra bản chất đã tự thu hút âm vong (tự hút nguồn âm khí đến gần). Có thể hiểu là họ mang tần số năng lượng hợp với những hồn ma.</p>
<p>Chẳng cần đến nơi âm khí, chẳng cần đến nghĩa trang hay đám ma, cứ “ung dung tự tại” mọi lúc mọi nơi những người này vẫn luôn có vong ma bám theo, đi bên cạnh, ăn cạnh, thậm chí nằm cạnh... Không cần có duyên, không cần mắc nợ, vong vẫn theo họ ầm ầm và họ tiếp xúc âm khí hằng ngày hàng giờ dù muốn hay không .</p>
<p>Tùy theo độ sát âm của căn mệnh hoặc đến một lúc nào đó khi sự nhiễm âm tích tụ đủ lớn, họ cảm thấy, nhìn thấy rõ, nghe thấy rõ được âm vong. Một số khi dương khí bản thân suy yếu, luân xa bị mở họ dễ bị vong ốp nhập mất kiểm soát, nếu là người có căn số và bị ốp nhập nhiều dễ chuyển mệnh đạo về căn đồng dí (đồng nhân cho vong ma ốp nhập trực tiếp khi làm việc) dù bản thân đáng lẽ họ là căn đồng pháp, đồng soi, đồng kêu cầu...</p>
<p><em><strong>- Lưu ý</strong></em>: Người có căn là đối tượng được vong ma đối xử rất đặc biệt, KHÁC với người thường, dù là đã ra trình đồng hay chưa trình đồng:</p>
<p>Vong ma bám theo nếu không hấp thụ được trực tiếp dương khí từ người căn số, không lấy được năng lượng lúc đồng nhân hầu Thánh thì sẽ tác động người này trong giấc mơ, thường mơ thấy ác mộng, khiến họ sợ hãi đau khổ tột độ. Ngay lúc sợ hãi và đau khổ tột độ đó, năng lượng bản nguyên sẽ bị bộc phát ra, vong ma lao vào lấy đi phần năng lượng này.</p>
<p>Nếu người căn số tỉnh dậy cứ mãi lẩn quẩn với những giấc mơ này không thoát ra được, vong sẽ biết đó là điểm yếu của đồng nhân, sẽ liên tục tác động lặp lại các giấc mơ tương tự hòng lấy tiếp nguồn năng lượng quý giá.</p>
<p>+ Chủ động chiêu âm: Những người thu luyện âm binh, nuôi binh... trong nhà, điện đền nơi thờ cúng của họ luôn có lượng âm khí lớn. Âm khí này bám vào họ như hình với bóng.</p>
<p>Nếu làm việc phúc giúp người sinh phúc đức và theo đúng nguyên tắc hành pháp chính đạo, họ được chư Thánh Thần hoặc tổ nghiệp đạo che chở... việc nhiễm âm này sẽ không xâm đến căn mệnh, chỉ dừng ở mức độ có thể kiểm soát. Nhưng khi làm việc sai trái không đúng phép hoặc khi những người thầy nuôi binh này mất mà điện đền nơi họ nuôi binh không ai tiếp quản, cai binh... thì âm khí từ âm binh này sẽ bám tá vào điện thờ, vào con cháu người nhà của người thờ điện.</p>
<p>Cá biệt có một số trường hợp tự muốn chiêu âm và muốn làm cho mình sát âm, nhiễm âm để phục vụ mục đích khác: Đồng dương muốn làm việc âm, đồng pháp muốn hành đạo độ âm... mà bản nguyên hoặc căn cơ họ chưa đủ để giao thiệp, nói chuyện, cảm được âm vong. Họ chủ động tìm đến những nơi âm khí hoặc sống tại nơi âm khí nặng một thời gian đủ lâu (1-5 năm liên tục) để có thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy và giao thiệp được với âm vong, thuận lợi việc hành đạo. Những trường hợp này cần phải có đạo pháp và người đỡ bóng để khi nhiễm âm vẫn không bị xâm mệnh đồng. Chỉ phục vụ mục đích hành đạo.</p>
<p>Người thường hoặc không có đạo nếu cố tình chiêu âm sẽ bị phản tác dụng.</p>
<h2>Xử lý và phòng tránh nhiễm âm</h2>
<p>- Xử lý khi nhiễm âm:</p>
<p>-- trẻ em mới sinh đẻ bôi son môi vào ấn đường , 2 bôi vôi vào gót chân</p>
<p>- người lớn.</p>
<p>+  Gừng giã nhỏ pha với nước ấm hoặc rượu mạnh cho người nhiễm âm khí uống, tắm rửa giúp  khử tà, khử âm khí trong cơ thể</p>
<p>+ Xông nhà cửa bằng khói bồ kết ,  can khương , hoặc quế chi , bặc hà sả gừng....</p>
<p>+ Đất quá nặng âm (đất dữ) thì chuyển đi chỗ khác ở hoặc nhờ thầy về trấn trạch an định lại âm phần không cho vong ma quấy phá theo sát nữa.</p>
<p>+ Dùng lửa đốt vía xua đuổi âm khí hoặc massage cơ thể bằng thảo dược giúp lưu thông khí huyết, đẩy âm khí ra ngoài (thường chỉ áp dụng cho trường hợp mới nhiễm âm hoặc mới đến nơi có tang sự, bốc mả.. Nhiễm âm lâu ngày không dùng được cách này.)</p>
<p>+ Tắm nắng : Thường xuyên đón nắng tăng dương khí tự nhiên cho cơ thể, đẩy âm khí trong người</p>
<p>+ Đi về hướng Mặt trời mọc vào sáng sớm (khoảng 5h sáng): Lúc nguồn dương khí và năng lượng vũ trụ mạnh đẩy âm khí trong cơ thể ra dần dần. ( Cách này phải kiên trìliên tục mới có tác dụng.)</p>
<p>+ Trường hợp bị nhiễm âm nặng, đặc biệt là người có căn số: Cậy sở thầy đồng làm lễ trục tà, trừ âm khí (thường thấy trong các khóa lễ hầu Nhà Trần hoặc trong giá hầu Quan lớn Đệ Ngũ.)</p>
<p>- Phòng tránh nhiễm âm:</p>
<p>- Người hay nhiễm âm lên ăn nhiều các loại rau như</p>
<p>-  Đinh lăng , gừng ngải cứ, bặc hà , các món cay làm toát mồ hôi , hoặc các món có thảo quả hồi quế.</p>
<p>- người hay nhiễm âm hoặc nhà có con nhỏ đi đám ma đi ra nghĩa trang tảo mộ đi vào nơi âm ám...... lên mang theo 3 lá trầu không hoặc 12 cái lá na tươi , hoặc 7 lá dâu tằm.</p>
<p>+ Với người thường: Tránh đến nơi âm khí, tránh sống nơi âm khí nặng. Mang theo bên mình các vật trừ âm, bùa chú sát quỷ...</p>
<p>Trẻ em có thể bán khoán cửa đền phủ, cửa đức ông, đeo bùa hoặc các vật phong thủy đã trì chú...</p>
<p>+ Với người có căn, đặc biệt là có bản nguyên sát âm: Tránh 1 phần (rất khó), 9 phần là tự nâng cao sức chịu đựng và năng lực bản thân.</p>
<p>Tân đồng thì nhờ đồng thầy đỡ bóng che mệnh trong thời gian đầu, càng về sau càng phải tự rèn luyện, tu tốt xin được năng lượng bóng thánh trong các canh hầu càng nhiều, càng vững bóng thì âm vong càng khó xâm mệnh. Khi mệnh đồng đã vững thì dù vong ma kéo đến xung quanh, dù âm khí tụ lại, có nhiễm âm cũng chỉ khiến đồng nhân cảm nhận và có chút khó chịu (lạnh người, sởn da, đau đầu....) chứ không có gì đáng lo ngại.</p>
<p>Người biết tu hành sẽ dùng những chính sự nhiễm âm này trở thành phương tiện đắc lực phục vụ cho việc hành đạo phụng sự, kết nối âm dương của mình.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Đồng âm có làm được việc dương không?</title>
<link>https://tuvidonga.com/dong-am-co-lam-duoc-viec-duong-khong</link>
<guid>https://tuvidonga.com/dong-am-co-lam-duoc-viec-duong-khong</guid>
<description><![CDATA[ Một lí do nữa chính là vận số của đồng nhân đang đến giai đoạn kém. Khí vận xuống dốc khiến mọi việc đổ bể. Lúc này cũng chỉ có cách làm việc hành đạo đúng phép để tích âm phúc, nương nhờ khí vận Nhà Thánh thì mới có khả năng xoay chuyển khí vận bản thân, dần dần phục hồi và thoát khỏi cảnh cùng cực mà thôi. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635b2ac1b8e6.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:07:21 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>đồng âm</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Nhiều đồng nhân ra đồng gặp phải tình trạng “không có lộc dương”. Điển hình như:</p>
<p>- Đi làm thuê: Làm công ty nào công ty đó phá sản hoặc trên đà giải thể, bán hàng khó khăn, các ca làm trước đông khách, ca làm của mình thì lẻ tẻ lác đác người hoặc có khách nhưng rất khó chốt đơn dù cũng là người xởi lởi khéo ăn khéo nói. Thường xuyên bị oan trái thị phi rèm pha trước sau khi làm việc tại cửa hàng, văn phòng, công sở...</p>
<p>- Đi làm chủ: Làm đâu lỗ đó, làm gì thua đó, công việc buôn bán dù tính toán rất kỹ, thiên thời địa lợi có đủ vẫn làm không đủ ăn hoặc không có khách bén mảng dù ở khu đông đúc buôn bán.  Bán rẻ hơn người khác nhưng không ai mua mà chất lượng như nhau</p>
<p>Khả năng thất bại phá sản đến 90%.</p>
<p>- Hợp tác kinh doanh, làm ăn: Hợp tác với ai thất bại đến đó, mất tiền mất vốn mất cả tình cảm, thị phi đeo bám. Nhiều trường hợp còn bị lừa lọc mất sạch tài sản tích cóp nhiều năm.</p>
<p>- Thăng tiến công việc, thi cử, chính trị, quan hệ xã hội khác: Đều kém, dù bản thân là người ngoại giao tốt, biết cách cư xử, thân thiện, biết nỗ lực cố gắng nhưng thường bị oan trái, hiểu lầm... hoặc bị ghét hoặc ác cảm dẫn đến hỏng việc... Nhiều trường hợp còn bị tai bay vạ gió, tai nạn bất ngờ... dẫn đến nhiều mặt cuộc sống bế tắc.</p>
<p>Căn nguyên của việc không có lộc dương này rất nhiều. Nhưng nếu xét về tâm linh, nếu là người có đồng và đặc biệt là “ĐỒNG ÂM” thì sự mất lộc dương này là RẤT THƯỜNG GẶP và dễ lí giải. Nguyên nhân chính là bởi những Đồng Âm này KHÔNG chịu LÀM VIỆC ÂM mà cứ muốn LÀM VIỆC DƯƠNG, muốn  XIN LỘC DƯƠNG đã.</p>
<p>Việc cần phải làm không làm, mà khi làm lại làm chưa đúng, qua loa, sơ mơ, sai sót</p>
<p>hay nói ngắn gọn là chưa an ngôi chính vị.</p>
<p>Ví như người căn số hành đạo, xem bói, gọi gồn, làm pháp, chữa bệnh... đó là căn cơ duyên nghiệp kiếp này của người đồng âm, là việc “phải làm” chứ không phải là muốn thì làm, mà không muốn thì thôi.</p>
<p>Hay người có căn số lập điện... trước là phụng thờ Thánh, sau là có nơi chính tắc làm việc hành đạo đúng với căn mệnh của mình. Nhưng mãi vẫn chưa lập điện, vẫn mải lo toan thứ nọ việc kia, mải loanh quanh với nghìn vạn lí do: chưa thể...</p>
<p>Nhà Thánh không thúc ép ai làm gì. Nhưng cái việc cần làm không làm chưa làm hay làm chưa đúng, việc phụng thờ chưa trọn vẹn thì căn mệnh chưa yên, khó tránh việc:</p>
<h2>Vong theo, quấn lấy không ngừng</h2>
<p>Vong hữu duyên, vô duyên, vong lang thang các nơi đi qua gặp người có căn số làm việc âm, có khả năng cảm âm... mà chưa chịu làm việc hành đạo đúng căn cơ... Không cần hữu duyên hữu nợ vong vẫn theo, vẫn bám (dù không ốp nhập vào được vẫn đeo bám)...</p>
<p>+ Trước là vì người đồng âm luôn có năng lượng bản nguyên sát âm (tương đồng với vong, luôn thu hút vong kéo đến). Người chưa an ngôi (chưa làm việc hành đạo đúng căn mệnh hay có đền điện thờ phụng, chưa có hành sai bảo hộ) thì giống như không có gì ngăn chặn, vong có thể thoải mái đeo bám, đầu tiên khiến tâm trạng thường xuyên mệt mỏi, rối loạn,... sau nữa là do âm khí luôn quanh quẩn bên cạnh, người dương (người quen biết, đồng nghiệp, cấp trên, khách hàng...) sẽ luôn có cảm giác khó chịu, cáu gắt và không muốn lại gần hay tiếp xúc làm việc với người này.</p>
<p>Việc buôn bán ế khách, đồng nghiệp ghét bỏ xa lánh hay công việc, sự nghiệp chậm tiến... là điều dễ hiểu.</p>
<p>Như vậy, dù là vô ý (vong không hề có ý tác động hay hại người đồng âm) nhưng cứ quanh quẩn bên cạnh số lượng lớn cũng khiến đồng nhân không có lộc dương.</p>
<h2>Oan gia theo</h2>
<p>Nhớ rằng: Oan gia theo đồng nhân là để đòi nợ. Có 2 kiểu oan gia đòi nợ.</p>
<p>- Oan gia đã theo phép: thì chỉ khi đồng nhân tu tập hành đạo có phúc, hầu hạ có năng lượng bản nguyên thì oan gia mới được trả nợ và chỉ được trả dần.</p>
<p>Nay đồng nhân việc cần làm không làm thì đến bao giờ oan gia mới đòi được nợ?. Thấy đồng nhân không lo lắng việc trả nợ này khiến oan gia đương nhiên khó chịu, tức tối và phải tìm mọi cách tác động để đồng nhân “bỏ” những việc trần việc dương kia mà quay lại làm việc âm, sớm trả nợ cho oan gia.</p>
<p>- Oan gia không chịu phép: thì lại càng được thể. Bởi đồng nhân không chịu làm việc cần làm, không có âm phúc, lại không an ngôi chính vị không có người bảo hộ chính tắc... nên cũng được thể lao vào xâu xé, tác động khiến cuộc sống của đồng nhân ngày càng bi đát, nhiều tai nạn, thị phi, mọi sự khó khăn...</p>
<h2>Gia tiên tác động</h2>
<p>Gia tiên là người hộ đạo gần gũi nhất với đồng nhân. Nhưng nếu đồng nhân cố tình không chịu lo hành đạo đúng căn nghiệp, hay làm sai, sơ mơ... thì gia tiên là người cùng chịu trách nhiệm, cùng gánh nghiệp với đồng nhân. Oan gia thúc đẩy, nghiệp gia tiên thúc đẩy... khiến gia tiên  hoặc:</p>
<p>+ Trực tiếp tác động đến đồng nhân đang quá quấn tâm vào việc dương mà lơ là, sai sót... việc Tiên Thánh, để đồng nhân phải dần biết mà quay lại làm việc cho đúng</p>
<p>+ HOẶC để cho oan gia, vong ma các nơi đến tác động vào đồng nhân, gây khó khăn cho đồng nhân trong việc dương phần, làm sao cho con cháu mình thay đổi làm đúng việc nên làm, biết sai mà sửa... Lúc này gia tiên mới đứng ra bảo hộ giúp sức.</p>
<h2><strong>Khách âm cậy nhờ</strong></h2>
<p>Người đồng âm có căn số hành đạo, phụng thờ nhà Thánh và đặc biệt những người đã làm các khóa lễ xin định nghiệp hành đạo (khất khai thần phiến, bóc én kén nàng, ngả quạt, làm pháp sư...v..v...)  thì trong thế giới vô hình những “đồng âm” này giống như đang đeo thẻ  “NGƯỜI HÀNH ĐẠO” vậy. Các vong dễ dàng nhận biết và còn truyền tai nhau đến cậy nhờ... Họ thường dẫn con cháu mình tìm đến hoặc dẫn duyên gặp gỡ nhờ giúp...</p>
<p>Nhưng người đồng âm còn đang mải mê công việc dương phần kia, thì lại: Nghe thấy người âm cậy nhờ mà cố tình giả vờ không nghe thấy và không giúp, gặp người dương tìm đến cậy sở mà không giúp, không muốn giúp hoặc lờ mờ sợ đủ thứ và không làm gì...  hoặc mãi không an yên điện đài thờ phụng để có nơi chính tắc làm việc... rồi lại lấy lí do bận việc dương, bận cuộc sống...</p>
<p>Đã lí do là do bận việc dương, do chưa đến lúc làm thì:</p>
<p>Những vị khách âm này (phần nhiều là gia tiên người cậy sở) sẽ tác động lên “đồng âm”, để người này nôn nóng trong người, tâm trạng bất an, hoặc bám lấy người này không rời, xua đuổi khách hàng, tác động cho công việc dương không thuận, lắm thất bại... đến khi nào người này chịu làm việc âm, chịu giúp con cháu mình thì thôi.</p>
<p>Nói vậy thì có vẻ như là quá đáng với đồng âm, nhưng căn cơ duyên nghiệp của họ kiếp này là phải làm việc âm, kết nối âm dương. Họ đã mang biển “người hành đạo” trên người thì những vị “khách âm” này tác động đến cũng chỉ giống là việc một người dân đến kêu quan (người đại diện hành pháp” để mong phân xử giúp đỡ họ mà quan không chịu làm, quan còn bận việc riêng... thì họ phải đánh trống, phải kêu, phải khóc, xưa còn tìm cách chặn đường dâng trạng sớ... thậm chí còn kiện... làm cách nào để người “có trách nhiệm hành pháp” kia phải làm đúng việc của họ. Đó cũng là lẽ thường tình.</p>
<h2>Âm binh theo</h2>
<p>Những người có căn số lập tĩnh (nuôi binh) thường có binh trên đất hợp mà theo, có thể là gia binh, gia nô binh... của gia tiên nhiều đời thậm chí binh tiền kiếp của đồng nhân .... (đã từng làm pháp và có nuôi binh) theo. Những binh này sẽ luôn bám theo người đồng âm kia.</p>
<p>Do không có người dẫn quản lâu năm, không ai khao binh luyện binh, không được gia trì tín ngưỡng...  những binh này thường dễ gây quậy phá xung quanh, tác động đến việc dương của đồng nhân để người này sớm lập điện thiết tĩnh nuôi quân và làm việc Thánh.</p>
<p>Một bộ phận binh Nhà Thánh được cắt cử trông coi tại bản điện của gia tiên người có đồng, những binh này rất quy củ, nghiêm nghị, không phá phách nhưng nhận thấy đồng nhân là người nối tiếp phụng sự thì vẫn luôn đi theo trước là bảo hộ, sau là chờ người có đồng sớm làm việc nên làm, tiếp nhận binh và làm việc Thánh.</p>
<p>Tuy nhiên vì họ đi theo và luôn bên cạnh nên một cách vô ý (như ý 1), khiến năng lượng âm xung quanh đồng nhân quá lớn, người dương xung quanh bị tác động và công việc dương của đồng âm khó thuận lợi.</p>
<p>Khi đồng nhân tôn cấp lập thờ, thiết tĩnh xếp quân hoàn thành thì những binh này sẽ vào nề nếp, chủ yếu trấn giữ bản đền bản điện, làm việc khi có lệnh và chỉ cắt cử người đi theo bảo vệ đồng nhân ở mức độ nào đó thôi.</p>
<h2>Vận hạn</h2>
<p>Một lí do nữa chính là vận số của đồng nhân đang đến giai đoạn kém. Khí vận xuống dốc khiến mọi việc đổ bể. Lúc này cũng chỉ có cách làm việc hành đạo đúng phép để tích âm phúc, nương nhờ khí vận Nhà Thánh thì mới có khả năng xoay chuyển khí vận bản thân, dần dần phục hồi và thoát khỏi cảnh cùng cực mà thôi.</p>
<p>Những người đã hành đạo, đã có điện mà làm chớt chơ, lỗi lầm, sai sót, tham cầu cá nhân quá độ ... không tích được âm phúc, không đúc được tín hương cũng bị tình trạng tương tự. Lộc dương không có mà lộc âm cũng dần mất luôn. Nhiều người khi đã làm sai làm lỗi năng lực dị năng bị chặn hoặc thu lại. Chỉ có thể cộng sinh hoặc làm tay sai cho ma tà.</p>
<p>Vậy, cái yếu tố then chốt giải quyết khúc mắc đồng âm không có lộc dương chính là: “<em><strong>Chưa an ngôi chính vị</strong></em>”.</p>
<p>Hãy nhất tâm làm việc phải làm, nên làm, cần làm và làm cho đúng cho tốt thì người “đồng âm” vẫn có thể song song làm việc âm việc dương, vẫn có thể buôn bán thuận lợi, kinh doanh sự nghiệp thăng tiến, mọi sự vẫn có thể hanh thông phát triển tốt... Khi đó lộc âm chắc chắn có, lộc dương cũng không hề ít.</p>
<p>Rất nhiều người đồng âm vừa làm việc âm vừa buôn bán phong thủy, bán hàng quán, kinh doanh thuận lợi, thăng tiến công danh, gia đình êm ấm... Nhưng nếu cứ chăm chăm buôn bán mà nghiệp đạo không làm, bỏ bê thì rất hay mất lộc dương, cuộc sống đảo lộn...  đến khi làm việc hành đạo có phúc thì lộc dương lại có... cũng là vì vậy.</p>
<p>Vậy mới nói:</p>
<p style="text-align: center;"><em>“Chấm đồng cô lại thương đồng</em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Nỡ nào cô để cho đồng hàn vi”</em></p>
<p>Hãy làm đúng việc, sẽ được ban công thưởng lộc xứng đáng. Lộc âm lộc trần không thiếu điều gì.</p>
<p>Chớ có không làm mà nghĩ được hưởng, hay nghiệp đạo bỏ bê, làm sai làm lỡ...  rồi cuộc sống vất vả, trân chuyên, hay bế tắc lại suốt ngày đăng STT mà than rằng:</p>
<p style="text-align: center;"><em>“Ngẫm thân mình ơi sao vất vả</em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Bởi rằng mình số cả căn cao...”</em></p>
<p>PS : Tôi đã từng kể câu chuyện bản thân mình trong một bài viết tôi là người biết làm ăn và kiếm tiền rất giỏi nhưng cũng vỡ nợ 3 lần bởi chống đối việc nhà Thánh ,đồng âm nó vậy cuộc đời này , vẫn phải là trên no việc Thánh dưới gánh việc Trần thì mới yên được , từ khi tôi toàn tâm toàn ý làm việc nhà Thánh nhưng ấy vậy mà việc trần và lộc dương hoặc buôn bán hay làm ăn đều thuận lợi .</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: Thầy Trần</em></p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tại sao Hầu Đồng nhiều năm mà mệnh vẫn chưa yên?</title>
<link>https://tuvidonga.com/hau-dong-chua-yen</link>
<guid>https://tuvidonga.com/hau-dong-chua-yen</guid>
<description><![CDATA[ Người có đồng và đã ra đồng dù nhiều năm nhưng vẫn không an yên. Đôi khi là giả vờ an yên, cố giống như một người bình thường thậm chí hơn người nhưng sự “bất an” của họ luôn hiển hiện. Có người che dấu giỏi nhưng sự bất an tâm tính này có thể bộc phát bất cứ lúc nào. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635b58fd0891.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:06:45 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>hầu đồng nhiều năm vẫn chưa yên</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Người có đồng và đã ra đồng dù nhiều năm nhưng vẫn không an yên. Đôi khi là giả vờ an yên, cố giống như một người bình thường thậm chí hơn người nhưng sự “bất an” của họ luôn hiển hiện. Có người che dấu giỏi nhưng sự bất an tâm tính này có thể bộc phát bất cứ lúc nào.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635b58fb468e.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="677" height="452"></p>
<p>Những biểu hiện dễ nhận biết và thể hiện ra như:</p>
<p>- Họ dễ cáu gắt nóng giận, thường nói những lời khó nghe gay gắt và đôi khi hay nói tục chửi thề</p>
<p>- Tâm họ rất dễ bất an và không kiểm soát được hành động, hay phản ứng thái quá với những sự việc không như ý đến với mình</p>
<p>- Họ rất nhiều vọng tưởng, hay loạn tâm, loạn ngữ hoặc có những hành động, việc làm trong điện thần hay trong lúc hầu hạ dở ương khác thường.</p>
<p>- Họ hay khó chịu và nảy sinh tâm ghen ghét, đố kỵ, nói xấu người khác</p>
<p>- Vẻ mặt thường xuyên u sầu, gây cảm giác lo lắng bất an, thậm chí gây chán trường và tạo không khí u ám, mệt mỏi cho người xung quanh</p>
<p>- Họ rất cố chấp và cực kỳ khó tha thứ lỗi lầm cho người khác, luôn đặt mình là trung tâm và coi mình là “nạn nhân” của mọi vấn đề.</p>
<p>Và còn những biểu hiện hay bị ẩn hoặc che dấu khéo léo chỉ mình họ biết như:</p>
<p>- Họ thường xuyên có những giấc mơ lặp lại nhưng luôn quanh co và bế tắc, luẩn quẩn quá khứ hiện tại, tương lai và rất khó thoát ra. Nhiều người bị bóng đè và luôn có cảm giác mệt mỏi áp lực.</p>
<p>Nhưng khi tỉnh mộng họ lại vẩn vơ quanh quẩn với những giấc mơ đó, cố gắng lí giải một cách hợp lý giấc mơ nhưng vô vọng. Họ tự tạo một vòng vây của những ảo ảnh, loạn tưởng xung quanh mình và đôi khi bắt người khác phải cuốn theo sự ảo tưởng cùng với mình theo một cách thức cũng rất “tâm linh”.</p>
<p>- Tham muốn bất tận, không bao giờ biết đủ cả về vật chất hay tình cảm. Họ không chấp nhận rằng mình thiếu phúc, lắm nghiệp hay kém phận hơn người khác. Họ thường bứt dứt vì cảm giác thua kém và luôn cảm thấy khó chịu trước sự hạnh phúc vui vẻ của người khác.</p>
<p>- Họ luôn cảm thấy bản thân bị đối xử bất công và thường xuyên sống trong sự oán trách, đôi khi là tâm lý hận thù, trả đũa... nhưng lại thể hiện ra ngoài là bao dung vị tha hoặc không quan tâm. Thực tế tâm họ không yên dù chỉ một phút. Họ luẩn quẩn với sự “bất công” tự suy diễn đó hết ngày này qua ngày khác cùng với khuôn mặt và sự giả tạo của mình.</p>
<p>- Họ rất  tự ti... nhưng lại luôn muốn chứng tỏ bản thân với người khác rằng mình rất ổn, rất tốt, rất thoải mái. Đôi khi họ cười ngô nghê, vô tri không hiểu mình làm gì nói gì.</p>
<p>- Họ hay tỏ ra là người hiểu biết, trượng nghĩa, thậm chí là người hiểu rất sâu về đạo. Nhưng khi động đến việc đạo thì họ lại lơ mơ như gà mắc tóc.</p>
<p>- Họ thường lảng tránh công việc tâm linh, hành đạo thực sự... không phải vì họ không muốn làm mà vì họ chẳng biết làm gì, làm từ đâu hay như thế nào. Họ chỉ nói hay và thể hiện mình biết trên mạng ảo nhưng đa phần là lí thuyết suông.</p>
<p>- Họ hay tìm cách hòa mình với đám đông, tham gia đủ các hội nhóm, lắng nghe và suy luận thậm chí bắt trend rất nhanh. Đôi khi cố gắng kết hợp những thông tin nghe được hay thu thập được để đưa ra những luận đoán mang đậm tính tiên tri và tâm linh để tạo niềm tin của mọi người với mình. Đôi khi đúng và đôi khi sai. Nhưng đúng 1 lần thì họ càng nghe ngóng nhiều, càng suy luận nhiều, càng “phán” dữ hơn. Họ là điển hình của sự loạn ảo tâm linh, sự “bói mò” và “ảo tưởng sức mạnh”.</p>
<p>- Họ thường thể hiện rằng mình sợ năng lực tâm linh, không cần dị năng, coi thường dị năng ..., muốn làm người bình thường, không quan tâm thế sự...bla...bla...  nhưng trong tâm lại luôn ganh tỵ với những người có dị năng, đã, đang làm việc tâm linh hoặc đã an ngôi chính vị trong việc phụng thờ hay làm việc nhà Thánh.</p>
<p>- Đôi khi có những việc sẩy ra đến với họ dù lớn dù bé, tai nạn hay mất của, xung đột hay bị hại... họ không tự tìm đường giải quyết mà lại đổ cho căn quả. Đôi khi họ oán trách, hoặc đổ lỗi cho cả Thánh lẫn thầy đồng và những người xung quanh</p>
<p>- Họ với tâm thái là người đã ra đồng lâu năm, là đồng anh lính chị, đồng bác đồng chú của nhiều thế hệ đi sau nhưng cuộc sống thường ngày và cả việc đạo đều không có bước ngoặt tốt hay cải thiện. Vẫn loanh quanh luẩn quẩn bế tắc thậm chí vẫn còn vô số loạn ảo mộng mị. Đôi khi còn không nắm rõ việc mình phụng sự nhà Thánh có lỗi lầm, sai sót, sơ mơ ở đâu hay cần điểu chỉnh gì để cuộc sống việc đời việc đạo được tốt lên.</p>
<p>- Hãn hữu có một số người mang cái mác đồng nhân lâu năm, thậm chí có người trước đây còn rất nổi tiếng... nhưng vẫn không biết mình đang tu đến mức nào, cần tu tập tiếp như thế nào... Chỉ cố duy trì hầu hạ, duy trì danh tiếng bề nổi và cái danh đồng lâu năm... nhưng còn việc tu đạo khai mở thần hồn, rèn đồng, luyện đồng, nâng cao đạo hạnh dường  như chẳng còn mảy may nghĩ đến.</p>
<p>Tâm tu đạo lúc này của họ còn kém hơn cả một tân đồng mới nhập đạo.</p>
<p>Đặc biệt là thời này lắm kẻ làm thầy đạo cũng còn không yên. Chỉ chăm chăm vào cái danh tiếng đồng nhà Thánh đang có, cố bám víu lấy nó, để mang danh hành đạo, ( nhưng thực ra là lừa đời) rồi khối kẻ Vay mượn tùm lum, bán nhà bán cửa để lê lết theo danh theo phận theo cái ông nọ bà kia.... , có khi một nghìn chẳng còn, vay nợ khắp nơi vẫn phải duy trì cái hào nhoáng sang chảnh ...canh đàn tố hảo lừa người ảo mình được ngày nào hay ngày đó bon trên danh đồng nhân, thầy đồng.</p>
<p>Cũng có khối kẻ bất hạnh từ gia đình con cái, tâm tính giới tính, tình cảm và kinh tế ...... nhưng lại hay giao giảng sự hạnh phúc ....bla bla.</p>
<p>Hoặc sáo rỗng vô đạo ko gốc bất học cóp nhặt cũng  giao giảng bla blla......</p>
<p>Dù bằng cách nào, lộ liễu hay kín đáo, thể hiện hay che dấu. Thì những người này tự họ ít nhiều cũng biết rằng bản thân mình rất bất an. Nhưng bởi nhiều lí do (bởi tự thân, bởi danh tiếng, bởi sợ hãi...) đa phần họ chấp nhận sự bất an đó hoặc giả vờ như đã vượt qua được sự bất an đó.</p>
<p>Nhưng thực sự, là KHÔNG.</p>
<p>Cũng bởi vậy mà dù có mang tiếng theo đạo nhiều năm, họ vẫn chấp chới giữa hai khái niệm “theo đạo” và “tu đạo”.</p>
<p>Tưởng như đang tu mà lại chẳng tu được gì. Bởi chính cái tự nhận diện bản thân, những cái khiến bản thân đau khổ, mệt mỏi, loạn ảo, sân hận, chán trường... trong sâu thẳm tâm trí mình mà mình còn không dám đối mặt, còn luôn che dấu sự yếu kém, ảo tưởng..., còn lấy danh “theo đạo” che lấp vọng giác cầu toàn...  thì bao nhiêu năm theo đạo thực ra đã “tu” gì? Đã học gì? Đã sửa được gì đâu?</p>
<p>Những kẻ như vậy, chớ nói hai tiếng “tu đạo”, chớ hỏi vì sao chẳng an yên.</p>
<p>Ngẫm... mà sửa, may ra còn kịp!!!</p>
<p>Còn những  tân đồng cũng nhớ rằng mong cầu thì đời nó nhiều lắm và chưa bao giờ ai thỏa mãn bởi vì ta là con người.</p>
<p>Bước vào đạo hãy cố mà tu mà học vì các vết xe đổ trong đồng bóng nhiều lắm , có kẻ hầu phát lộc bằng vàng mỗi người dự hàng cây còn vỡ , chết còn ko có tiền làm ma con cái thì cũng lãnh đủ , có người lập điện thờ Thánh lỗi đạo rồi mấy đời chịu nghiệp, cố gắng mà suy xét ,</p>
<p>Đừng bao giờ nghe ai và có tư tưởng cứ hầu và chỉ biết đến hầu là vì có căn.</p>
<p>P.S.</p>
<p>Để tìm về an tâm an tính, mỗi người sẽ có 1 câu trả lời. Nhưng với những ai còn đang loay hoay mong cầu một lời chỉ dẫn, thầy có đôi câu, lợi ích đến đâu, tùy duyên mà ngộ trình đồng đầu nhập Thánh môn do căn cơ hoặc do các cụ gia tiên muốn ta ra đồng... thậm trí hành đạo trả nghiệp đó chỉ là bước đầu của từ an ngôi chính vị còn tu đến bước sau cho đúng đạo đúng với 2 từ đồng cốt nó mới là đích đến mà nhà Thánh và gia tiên của ta cũng như căn cơ và mục đích của từ sạch sành sanh còn manh áo đỏ .</p>
<p>Ngẫm thời trong cõi nhân sinh</p>
<p>10 điều xảy đến 9 điều không xuôi</p>
<p>Trăm mối khó nghĩ khó chiều</p>
<p>Trăm điều đau khổ khó lòng nói ra</p>
<p>Bạn bạn rồi lại tôi tôi</p>
<p>Anh em chí cốt, chị em cùng thuyền</p>
<p>Bước trên đường đạo đường đời</p>
<p>Nâng vui có đủ, lúc buồn mấy ai?</p>
<p>Thôi rằng nay đã tu rồi</p>
<p>Tìm về bản ngã, hàn lại bản tâm</p>
<p>Mong sao yên tính yên đồng</p>
<p>Đời này 10 thứ  cũng chỉ cần lấy 3</p>
<p>1 là trả nợ gia tiên</p>
<p>2 là trả nợ oan gia đồng lần</p>
<p>3 rằng tri kỷ đạo đời</p>
<p>Vậy là có đủ, chẳng còn thiết chi.</p>
<p>Nhất tâm tu đạo tu đồng</p>
<p>Ân trên có Thánh, ơn cao có thầy</p>
<p>Thiên hạ ngàn tỷ ai tày</p>
<p>Cũng chẳng ảnh hưởng khói hương ta phụng thờ</p>
<p>Việc đời chẳng còn sợ lo</p>
<p>Nhân duyên bạn đạo chẳng cầu số đông</p>
<p>Trăm nghìn kẻ ghét kẻ trông</p>
<p>Trăm danh vạn tiếng chỉ là thoáng qua</p>
<p>Kiếp trước kiếp sau thôi kiếp này</p>
<p>Nhân duyên cũng trọn, oan duyên cũng bù</p>
<p>Tu cho tâm an tính lành</p>
<p>Gia chung êm ấm,cháu con đề huề</p>
<p>Ban công thưởng lộc cũng mê</p>
<p>Nhưng mà phúc quả còn mê hơn nhiều</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Không thầy đố mày làm nên</title>
<link>https://tuvidonga.com/khong-thay-do-may-lam-nen</link>
<guid>https://tuvidonga.com/khong-thay-do-may-lam-nen</guid>
<description><![CDATA[ Rất nhiều cô cậu đồng hành đạo tâm linh có người đến sở cậy và làm được vài việc cho bách gia rồi nghĩ mình là giỏi là nhất, mục hạ vô nhân không coi những bậc lão thành hay tiền bối ra gì, thậm chí còn coi rẻ cả thầy mình. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635b73085ff1.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:06:12 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>không thầy đố mày làm nên</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Rất nhiều cô cậu đồng hành đạo tâm linh có người đến sở cậy và làm được vài việc cho bách gia rồi nghĩ mình là giỏi là nhất, mục hạ vô nhân không coi những bậc lão thành hay tiền bối ra gì, thậm chí còn coi rẻ cả thầy mình.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635b7306596f.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p>Cũng như đời vậy: Rất nhiều người giàu nghĩ mình giỏi. ĐÚNG.</p>
<p>Không có mệnh đề nào kiểu: “Tôi giàu vì thế tôi giỏi” hay “Tôi giỏi hẳn nhiên tôi giàu”.</p>
<p>Cũng không có chuyện: Giàu mặc nhiên giỏi, giỏi mặc nhiên giàu...</p>
<p>Nhưng: Giữa giỏi và giàu luôn có CẦU NỐI.</p>
<p>Có người tạo cầu nối bằng quan hệ, xây nên lợi ích nhóm, từ đó họ giàu - Vậy là họ giỏi.</p>
<p>Có người tạo cầu nối bằng những kỹ năng riêng biệt, xây nên thương hiệu cá nhân, nhờ đó họ giàu – Là họ giỏi.</p>
<p>Cũng có người tạo cầu nối bằng những thủ thuật, mưu mẹo, gian trá, bạo lực, áp chế... xây nên nỗi sợ, sự tin tưởng và đôi khi là sự phục tùng... từ người khác - Đó cũng là giỏi.</p>
<p>Nhưng nếu như cho rằng: “Tôi giàu rồi anh có giàu bằng tôi không mà anh dạy tôi?” Lại là SAI</p>
<p>Vua còn có thầy, mà còn nhiều thầy. Thầy dạy văn, dạy võ, dạy sách lược.... rất nhiều. Gọi là thầy hay sư phụ.</p>
<p>Giầu như ông vua còn có thầy Vậy giầu tầm việt nam hay tỷ phú đã là gì so với vua ? tphus thế giới họ còn cậy nhờ và thụ giáo các thầy học các thầy.... Xưa ta nghèo, ngày xưa nghèo tiền bạc giờ giàu bạc lắm tiền nhưng lại đánh đổi giá trị sống, nghèo về nhân sinh quan, nghèo về giá trị sống, nhân quả... hay sao?</p>
<p>Cô cậu đồng cũng vậy đừng nghĩ làm vài chuyện rồi đánh bóng mà đã cho mình tài mình giỏi ko phải học ai... kể cả thầy mình.</p>
<p>‘Ngọc bất trác bất thành quý. Nhân bất học bất tri lý”</p>
<p>Ở đời:</p>
<p>Trước khi kinh doanh thành công anh cũng phải đi qua nhiều thăng trầm, nhiều lần thất bại hay không như ý, cũng phải tìm hiểu thị trường, sản phẩm, cũng phải học hỏi cách marketing, học người nọ nhìn người kia đã từng kinh doanh, đã từng thành công thất bại trong nghề... và cầu những chia sẻ những trải nghiệm quý báu từ những tiền bối đó mà đúc rút ra kinh nghiệm và kỹ năng cho mình.</p>
<p>Vậy họ có thầy không? CÓ.</p>
<p>Những người thầy của họ có thành công hay giàu như họ sau này không ? Có thể đã từng giàu hơn họ gấp trăm lần và cũng có thể hiện tại nghèo hơn họ nghìn lần... Dù vậy, những người này vẫn là thầy của họ.</p>
<p>Suy rộng ra: Những người thành công trên con đường chính trị, khoa học, xã hội, văn hóa... hay bất cứ lĩnh vực nào khác cũng đều có THẦY. Thầy có thể là người đứng sau nâng đỡ chỉ dạy từ cách ứng xử, giao thiệp, đối nhân... thầy có thể là người chỉ dạy kiến thức khoa học công nghệ, thầy có thể là là người trao đổi truyền lại các kỹ năng, các thủ thuật, chia sẻ các kinh nghiệm...</p>
<p>Tất cả đều có THẦY.</p>
<p>Người GIỎI cũng luôn có THẦY. Chứ không phải người GIỎI bởi có THẦY GIỎI.</p>
<p>Hai việc này hoàn toàn khác nhau.</p>
<p>“Nông dân vẫn đẻ ra trạng nguyên” là chuyện thường.</p>
<p>Trong lịch sử phong kiến việt nam có Ô Nguyễn Công Trứ một vị quan đứng đầu triều đình mỗi năm đến ngày tết thầy hoặc đi thăm thầy, ông đều quỳ từ ngoài cổng trước sân nhà quỳ lê vào phòng trong nhà Thầy giáo mình theo lệ cũ để mà lễ mặc dù thầy giáo ông chỉ là một ông giáo làng một nông dân chính hiệu.</p>
<p>Đó người xưa thấm nhuần cái tôn sư trọng đạo như vậy ,</p>
<p>Lại nói,</p>
<p>Xét về năng lực sinh học tự nhiên, con người mắt không tinh bằng cú vọ, không tự lặn sâu được như nhiều loài cá, không bay được như chim, không khỏe như voi, không chạy nhanh được như ngựa, không có móng vuốt sắc như sư tử...</p>
<p>Nhưng con người luôn đứng đầu chuỗi thức ăn, đứng trên các loài động vật khác bởi con người có cái “giỏi” đặc biệt, đó là con người biết:</p>
<p>“Kiến tạo tri thức” và “Vận dụng tri thức” để đạt được mục đích nào đó hoặc làm được những việc vượt năng lực tự nhiên vốn có của các sinh vật khác. Mắt không tinh nhưng người ta chế ra kính hiển vi, kính thiên văn mà cú vọ không thể so sánh, chạy không nhanh như ngựa, không tự bay được như chim... nhưng người ta chế ra xe ô tô, xe lửa, chế ra máy bay... vậy đã đủ vượt trội???</p>
<p>Những nhóm, những cộng đồng người công nhận trí thức được kiến tạo đó, công nhận khả năng thực hành trí thức đó, họ cho rằng bạn là ưu trội, vậy là bạn GIỎI.</p>
<p>Ta có những nhà khoa học thiên tài để lại vô số phát minh, tri thức hữu ích cho nhân loại phát triển, ta có những nhà văn hóa, lịch sử, xã hội, văn hóa học... nghiên cứu để lại những giá trị nhân văn, nhân đạo... cho nhân loại...</p>
<p>Những nhà khoa học, sáng chế, nhà văn hóa, lịch sử... đó có THẦY không? Thầy họ chính là những người đi trước đã để lại kiến thức cơ sở cho họ. Bản chất họ là những người “vận dụng tri thức” đến ưu việt và dùng nó để “kiến tạo tri thức” mới cho nhân loại.</p>
<p>Họ biến cái “đã có” thành cái “có ích hơn”, biến cái chưa đạt thành cái đạt, biến cái bề mặt thành cái chi tiết, biến cái lí thuyết cơ sở thành cái lý thuyết chuyên sâu và thực hành, biến cái vốn có là 1 thành 100...</p>
<p>Ta học được từ những tri thức, những thành tựu đó để tạo nên thế giới quan, hình thành nhân sinh quan cho mình và vận dụng những tri thức đó vào cuộc sống. Vậy ta là người thực hành tri thức.</p>
<p> Những người kiến tạo tri thức, thực hành tri thức kia truyền lại cho ta đều là thầy ta đó.</p>
<p>Vậy muốn giỏi thì phải học và phải có thầy.</p>
<p>Nhưng học cũng có: Chính học và tà học.</p>
<p>Ví dụ: Khả năng ưu việt về võ học (giỏi võ) thì có người dùng bảo vệ người khác, bảo vệ cộng đồng... có người làm cướp làm trộm làm hại cộng đồng, có người lợi dụng võ học PR làm tiền, thu lợi thậm chí lừa gạt cộng đồng.</p>
<p>Cái GIỎI dựa trên đạo lý, khoa học, lấy sự chính thống, sự phát triển văn minh khoa học, phát triển cộng đồng xã hội... làm tôn chỉ và mục đích cuối cùng. Hay còn gọi là CHÍNH HỌC.</p>
<p>Chính học là học đến khi giỏi rồi thì lại để cái giỏi cái giàu đó không còn của riêng anh, của nhóm anh nữa... mà nó phát tỏa, nó nảy nở những cơ hội cho xã hội, cho môi trường, cho thiên nhiên và cho cả đời sau.</p>
<p>Còn vô số những người có tài, có tiền, có quyền thật đó. Thiên hạ cộng đồng có thể gọi họ là giỏi thời điểm đó, tự họ cũng có thể thấy mình giỏi thật đó...</p>
<p>Nhưng nếu cái giỏi cá nhân này không dựa trên đạo lý, không để lại lợi ích gì cho xã hội, cho cộng đồng, cho đất nước, cho sự phát triển cộng đồng, nhân loại... mà ngược lại họ dùng Tiền, Tài, Quyền... để vun vén cá nhân mãi, thậm chí chiếm đoạt, làm hại người khác, quốc gia, cộng đồng... Và những cái họ học để rồi hình thành nên nhân sinh quan, thế giới quan sai lệch, vô đạo lý, hại nhân sinh thì đó là TÀ HỌC.</p>
<p>- Người chính học kiến tạo tri thức và vận dụng tri thức đạt được những thành tựu đến mức nổi trội trong 1 nhóm người, một công việc mục đích nào đó thì được cộng đồng tập thể nhất định công nhận là giỏi. Cái giỏi này phải mang lại lợi ích nhất định cho cộng đồng, cho tiến bộ và phát triển xã hội thì tri thức đó mới được lưu truyền và tồn tại, trân trọng.</p>
<p>Họ được kính trọng khi còn sống, được người đời tiếc thương, tưởng nhớ... khi đã mất. Những gì họ để lại được người đời trân quý, truyền lại cho thế hệ sau. Họ được đời sau kính ngưỡng, biết ơn. Họ là thầy của muôn người, của muôn đời.</p>
<p>- Người tà học có thể đạt đến độ giỏi nhưng cái giỏi của họ được dùng để đàn áp, giết người, cướp bóc, áp chế cộng đồng,lừa đảo, làm hại cộng đồng... thì cái vượt trội (được một nhóm nào đó công nhận kia) chỉ là sự khác biệt, dị biệt và luôn bị gắn mác tà ác. Cộng đồng không trân trọng, tránh xa và không có chuyện mong muốn lưu truyền cho thế hệ sau, cho cộng đồng hay tương lai trân quý ghi nhớ hay giữ gìn gì cả... Bởi không để lại cho cộng đồng lợi ích, họ dễ rơi vào quên lãng nhanh chóng thậm chí nhắc đến là bị chửi rủa, coi thường, sự biến mất hay thất bại của họ không ai quan tâm, đôi khi được cả cộng đồng vui mừng.</p>
<p>Vậy, cái “giỏi” muốn truyền đời phải thuận với THIÊN – ĐỊA – NHÂN, được tạo hóa ủng hộ.</p>
<p>Đó là trong cuộc sống.</p>
<p> Còn xét về ĐẠO học thì, ta thường hay nói:</p>
<p>“Không thầy đố mày làm nên...</p>
<p>Trọng thầy mới được làm thầy...”</p>
<p>Các cụ xưa nói không sai đâu.</p>
<p>Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu (孔丘). Cách gọi "Khổng Tử" hay "Khổng Phu Tử" đều mang nghĩa là "thầy giáo Khổng", là một cách gọi tôn trọng. Nho giáo nhấn mạnh yếu tố đạo đức của mỗi cá nhân lẫn chính quyền, tính đúng đắn trong các mối quan hệ xã hội, sự công bằng, lòng nhân ái và tính chân thành.Khổng Tử là người đặt nền móng cho Nho giáo. Là người “kiến tạo tri thức” vậy.</p>
<p>Mạnh Tử là triết gia Nho giáo Trung Quốc và được coi là người tiếp nối Khổng Tử. Ông được xem là ông tổ thứ hai của Nho giáo và được hậu thế tôn làm "Á thánh Mạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử)... là người “vận dụng tri thức” và phát triển nó tốt hơn nữa. Trở thành người “kiến tạo tri thức” tiếp theo.</p>
<p>Phật giáo: Đức Phật trước khi thành Phật, ngài thuyết giảng và những đệ tử đi theo ngài vẫn gọi ngài là thầy. Ngài là người “ kiến tạo” trong đạo Phật. Những đệ tử đạo Phật sau này dựa trên tri thức được để lại này để gìn giữ và phát triển đạo hơn. Nếu đi đúng hướng với mục đích vì cộng đồng, xã hội, văn minh nhân loại, hướng đến tốt đẹp thì đó là những người “thực hành tri thức”. Nếu thực hành tốt đến một mức nào đó vượt trội, để lại những thành tựu đáng quý và lợi ích cho cộng đồng nữa thì cũng sẽ thành những người “kiến tạo”. Trở thành những người thầy đạo chân chính.</p>
<p>Đó là điển hình cho sự tiếp nối phát triển đạo.</p>
<p>Đạo Mẫu ta cũng vậy: Đức Thánh Mẫu và các vị Thần Thánh trong đạo luôn hướng con người ta đến Chân – Thiện – Mỹ - Đức, hướng về bảo vệ quốc gia bờ cõi, bảo vệ cộng đồng, dạy dân có nghề, sống có nhân có nghĩa, giữ gìn truyền thống thờ phụng gia tiên tiền tổ... Đó đều là những tri thức, những giá trị quý báu vì quốc gia, cộng đồng dân tộc. Những người hành pháp Thánh, cứu khổ độ mê, thực hành soi bói, gọi hồn, chữa bệnh, pháp sự... kết nối âm dương, chữa bệnh âm bệnh dương... đều là để âm siêu dương thái, con người hạnh phúc, cộng đồng xã hội phát triển.</p>
<p>Các vị Thánh Đạo Mẫu giống những nhà “kiến tạo”. Chúng ta những người theo đạo Thánh là người “thực hành” vậy.</p>
<p>Đồng nhân Đạo Thánh vào đạo nhập đạo tu đạo là được ân hưởng bởi những người “thầy” vô cùng đáng kính và cũng rất đặc biệt. Trên ta có Chư Thánh soi đường, Chư Tổ dòng đồng bảo hộ, lại có Thầy đạo dẫn lỗi chỉ dạy...</p>
<p>Người xưa nói: “Thầy của ta là Thánh của ta” là vì vậy.</p>
<p>Người thầy đạo dẫn trình là người đưa đò dẫn ta vào nhập đạo thành công, khai thông được 4 phủ đã là ơn là phúc vô cùng.</p>
<p>Những ai có thầy dẫn đạo dạy đạo dạy tu đạo cho đồng đúng lề lối phép Thánh nữa thì trân quý và may mắn hơn nữa. Nhưng không có ai hoàn hảo và không phải ai cũng may mắn như vậy. Tất cả là do nghiệp duyên phúc phận của chính bản thân ta.</p>
<p>Chớ có đòi hỏi vô lý và tham lam hơn nữa rằng:</p>
<p>- Thầy tôi phải giỏi, phải tài, phải hiểu biết phải như ai bằng ai hơn ai...</p>
<p>- Thầy tôi phải là đồng âm đồng pháp đồng nọ đồng kia...dị năng đặc biệt như thế nào... mới dạy được tôi là đồng căn cao căn thấp, đồng âm đồng dương...</p>
<p>- Thầy tôi phải sống như thế nọ như thế kia theo đúng “chuẩn” như tôi mong muốn...</p>
<p>- Thầy tôi phải có dị năng biết âm biết dương thông tỏ giao thiệp với vong ma Thần Thánh...</p>
<p>- Thầy tôi phải sang phải giàu phải nổi tiếng hơn người...</p>
<p>- Thầy tôi phải dạy tôi học đạo tu đạo lề lối phép tắc nọ kia mới đúng chuẩn, phải chỉ tôi cách rèn dị năng, phải giúp tôi biết cách hành đạo ...</p>
<p>Quá tham lam và ảo vọng rồi!!!</p>
<p>Người thầy dương phần dẫn ta vào đạo thành công (khai thông tứ phủ) là đã vô cùng quý báu, như người sinh ra ta một lần nữa. Ta phải nhớ cái ơn đó.</p>
<p>Bởi nghiệp của ta, duyên của ta, căn số của ta, oan gia của ta, thậm chí là chính gia tiên của ta... đưa ta tìm về với Đạo chứ đâu phải thầy. Còn việc tu đạo học đạo để có tiến tu, đi từng bước từng bước trên con đường đạo và đến khi thành đạo thì phải dựa vào sự nỗ lực bền bỉ lớn lao, sự tìm hiểu học hỏi, hành đạo tích phúc... của chính bản thân chúng ta.</p>
<p>Ta có thể xin kê đệm đỡ bóng, có thể tìm hiểu kiến thức đạo trên các trang mạng, các nguồn đạo học, ta có thể chăm chỉ học thêm các sách vở nghiên cứu thuật đạo... tùy hoàn cảnh. Ta có thể có thầy trình đồng, có thầy đội lệnh hành pháp, có thầy dạy đạo tu đạo... nhưng đều là thầy ta. Kính thầy ơn thầy và cư xử lễ nghĩa cho đúng cho phải.</p>
<p>Còn tu đạo vẫn là ở ta, thành đạo hay không vẫn là từ ta cả.</p>
<p>“Nông dân vẫn đẻ ra trạng nguyên”.</p>
<p>Chớ có quên!</p>
<p>Những kẻ khinh thầy, phản thầy, quên ơn thầy đạo, sống không đúng lễ nghĩa với thầy đạo, lá mặt lá trái... là những kẻ không bao giờ có thể tu đạo Thánh được.</p>
<p>Lại nói, ta thường cầu xin chư Thánh, xin thầy đạo giúp cho ta được: “Khai tâm minh trí”. Khai thông ở đây không chỉ là khai mở sự thông minh, để tiếp nhận tri thức, để học nhanh nhớ lâu đơn thuần mà bản chất là xin được chỉ dạy để khai mở cho ta hiểu về ý nghĩa mục đích của cuộc sống, ý nghĩa của việc học đạo hành đạo là gì: là cái nghiệp của bản thân hay ai bắt ép? học đạo hành đạo để mang lại lợi ích cho ai, vì ai, cho cộng đồng, xã hội, cho những người xung quanh... hay chỉ cho riêng mình?... khai tâm cho ta biết theo đạo Thánh là phải “chính học”, chớ “tà học”.</p>
<p>Và cuối cùng, khai tâm minh trí là xin cho ta biết hướng đến học đạo làm sao, hành đạo thế nào, tu ra sao... để từ người “thực hành”... tạo lợi ích cho cộng đồng, xã hội, quốc gia... để lại giá trị tốt đẹp cho nhân loại, cho thế hệ sau... Khi đó ta mới thực là người “thực hành” đúng đạo, mới được mang danh là người giữ đạo Thánh.</p>
<p>Và tu tập thực hành tốt đến kiệt xuất một mức nào đó, mang lại lợi ích cho xã hội, cộng đồng và thế hệ sau đến một mức nào đó... mới được công nhận là người “thầy đạo” thực sự và trở thành người “kiến tạo” thế hệ tiếp theo.</p>
<p>Đạo nào cũng tồn tại, phát triển, trường tồn theo cách đó!!!</p>
<p>Lại nói rằng, những người mang danh đồng nhân, các vị đã bao giờ tự hỏi mình:</p>
<p>- Ta tự hào cho rằng mình là con đồng Nhà Thánh, là người giữ đạo, có đạo hạnh hay hiểu biết về đạo học ư? Ta đã làm được những gì? Đã giúp đỡ được bao nhiêu người cả âm lẫn dương để âm siêu dương thái? Đã làm được gì lợi ích để cộng đồng, xã hội và thế hệ tu đạo đi sau phải công nhận?</p>
<p>- Ta có khi nào dương dương tự đắc mình tài mình giỏi là bởi thiên chất, bởi năng lực dị năng vốn có, bởi cho rằng gia tiên mình phúc rộng tài cao... bởi đủ thứ mà quên đi người thầy dẫn đạo dạy đạo cho mình dù người đó có là “nông dân” hay không?</p>
<p>- Ta có thực giỏi, có truyền bá được đạo học chính tắc chưa? Hay chỉ toàn mác ảo tự phong, kiến thức cóp nhặt, nói hay làm dở, mua danh chuộc tiếng hội nhóm bầy đàn ông nọ hát bà kia lại khen hay?</p>
<p>- Ta có bao giờ cậy cái danh cái tiếng cái mác “đồng nhân nhà Thánh” để buôn Thần bán Thánh, dọa nạt người đời... hòng làm lợi cho cá nhân mình chưa?</p>
<p>- Ta có bao giờ đem Đạo Thánh đi tô đi vẽ để được người đời trọng vọng, bách gia cậy sở rồi lại làm sai làm láo, làm bừa làm ẩu... hại cả cộng đồng, bách gia và u mê những người đi sau nhập đạo chưa?</p>
<p>- Ta có bao giờ nhập nhèm giữa chính học và tà học, chính đạo - tà đạo, chính thần – tà thần... rồi ba ừ tư gật tu sao cũng được, đạo nào cũng theo, thần nào cũng vái, ai nói sao cũng vỗ tay tán thưởng...  không phân biệt đúng sai phải quấy chưa?</p>
<p>- Ta đã làm được gì, để lại được gì kiệt xuất cho đạo, cho đời, để đạo Thánh trường tồn, để người tu đạo nhiều đời sau được hưởng lợi lạc, để bách gia kính ngưỡng Thánh và tôn trọng những người hành đạo Thánh chưa?...</p>
<p>... vv...vv...</p>
<p>Vậy thì căn cứ vào đâu ta dám nhận mình là: Con nhà Thánh, Con Thần con Thánh, hay nhận mình là “Thầy đạo”, “Thầy đồng có đạo”...? Có thấy NGẠI không?</p>
<p>Chữ “thầy đời” không dưng mà có</p>
<p>Chữ “thầy đạo” không dễ mà mang</p>
<p>Tự vấn tâm mà xem mà sửa lại mình, mà tu cho phải đạo!!!</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Phân Biệt Vong Ma, Tà Quỷ, Tiên, Thần, Phật, Thánh</title>
<link>https://tuvidonga.com/phan-biet-vong-ma-ta-quy-tien-than-phat-thanh</link>
<guid>https://tuvidonga.com/phan-biet-vong-ma-ta-quy-tien-than-phat-thanh</guid>
<description><![CDATA[ Vong, ma, tà, quỷ, thần, thánh, phật, đây là các từ chúng ta ai cũng nghe thấy ít nhất một lần trong đời, có những người thường xuyên tiếp cận hay thậm chí những người làm việc tâm linh thường xuyên tiếp cận. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635b9f680e32.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:05:33 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>luận về vong ma tà quỷ thần phật thánh</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Vong, ma, tà, quỷ, thần, thánh, phật, đây là các từ chúng ta ai cũng nghe thấy ít nhất một lần trong đời, có những người thường xuyên tiếp cận hay thậm chí những người làm việc tâm linh thường xuyên tiếp cận. Tuy nhiên để hiểu rõ và phân biệt thì không dễ, hoặc có hiểu cũng khó miêu tả. bài viết này luận về Vong, Ma Tà, Quỷ, Thần, Phật, Thánh để mọi người cùng tham khảo</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635b9f6753ba.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<h2>1. Vong ma, tà</h2>
<p>Vong hay ma là người hoặc vật đã mất hoặc chết hoặc bị tiêu diệt.</p>
<p>Chỉ người hoặc đối tượng đã chết dù bất cứ là ai hay vật chết đều gọi là vong hoặc có thể gọi là vong hay ma hay gọi là “con ma”. Ta đi đám ma hàng xóm hay người thân tình quen biết thì gọi là “ma”, “đi đám ma”, còn vẫn con ma đó nhưng là người thân ta ông bà cha mẹ ta thì gọi là “gia tiên”.</p>
<p>Ma và tà bản chất chỉ là cách gọi và quan điểm. Đơn giản như: Tốt với ta thì là ma, hại người hại vật hại ta... thì là ma tà.</p>
<p>Vong ma/ vong cũng có nhiều loại vong. Người thường hay vật thường khi chết gọi chung là vong.</p>
<p>Nhưng người đó hay vật đó chết đi mà khi sống vốn tu đạo, ví như tu đạo Phật gọi là “giác linh”, tu đạo Thánh gọi là “chân linh”, còn không có tu đạo gọi là “vong linh”.</p>
<p>Bà cô tổ hay Thánh tổ của một dòng họ cũng thuộc dạng này nhưng các vị đó được cả họ tộc kính ngưỡng tôn thờ, có thể được gọi là “Thánh tổ” hoặc “Chân linh cô tổ”, “ Ông mãnh tổ”.</p>
<p>Đối với những đồng bào dân tộc thì dù là vong, ma hay thậm chí Phật Thánh Thần Tiên gì cũng đều là “con ma” hết.</p>
<p>Họ quan niệm phân ra là: ma nhà , ma rừng hay cao hơn là ma mường Trời.</p>
<h2>2. Thần (神)</h2>
<p>Về chiết tự:</p>
<p>Hán tự “Thần” (神) là biểu thị bằng hai chữ “thị thân” (示 申), “Thị” (示) nghĩa là hiển thị, khai thị; Chữ “Thân” (申) chính là nói rõ, trình bày rõ. Vậy thì Hán tự “Thần” (神) nên được giải là: khai thị cho con người, thể hiện ra rõ, trình bày ra cho rõ (những điều thuộc về thiện, làm người tốt, đạo lý tu luyện).</p>
<p>Xưa lại có ý khác nữa:</p>
<p>Chữ Thần nguyên gốc là gồm hình tượng cái kiếm cắm xuống chữ Điền (đất) (申) mang tính chủ quyền</p>
<p> Bên phải chữ Thị ý nghĩa là tế lễ, được kính ngưỡng, được noi theo...</p>
<p>Vậy “Thần” nhìn chung chỉ một vị có anh linh quản lý cai quản một vùng nhất định được người dân thờ cúng, tế lễ, kính ngưỡng.</p>
<p>Như vậy Thần có thể xuất phát từ nhiều nguồn gốc:</p>
<p>- Trời đất sinh ra một đấng phi thường đứng trên cao hơn mọi người như tự nhiên có sơn thần, thiên thần, hải thần .hoặc Pháp Vân, Pháp Vũ , Pháp Lôi Pháp Điện, ông Đùng , bà Đoàng....(tự nhiên thần).</p>
<p>- Bậc những võ công hiển hách, tài năng bất phàm văn thao võ lược cứu giúp người dân, truyền bá nghề (tổ nghề)... sau khi chết được người ta sùng bái tôn thờ linh hồn, gọi là “thần”.</p>
<p>- Những vị gắn với sự phi thường, kỳ lạ huyền diệu, không phải tầm thường, bất phàm ... khi sống hoặc sau khi đã chết hiển linh... dù là một người ăn mày, một cái cây, một vật nào đó... được dân chúng sùng bái bởi có sự linh ứng... gọi là thần.</p>
<p>Nên nhớ bởi chữ Thần gắn với sự quyền uy, cai quản một vùng đất. Phạm vi vùng đất này lớn hay nhỏ, sự kính ngưỡng đến từ vùng đất này nhiều hay ít hình thành nên cấp bậc của Thần. Ví như vị thần quản lý một làng một xã xưa có Thành Hoàng, nhưng một cùng cao hơn rộng hơn có Đô Đại Thành Hoàng, còn các vị quản lý và khuông phù cả quốc gia, cộng đồng lớn đến một mức nào đó là “Phúc Thần”.</p>
<h2>3. Quỷ (鬼)</h2>
<p>Chữ “Quỷ” bắt nguồn từ 3 chữ vương (王) nghĩa là những bậc tổ tiên đã chết được thờ cúng. Chữ “Quỷ” bắt nguồn từ chữ 3 Vương của người Việt cổ, nói về thuyết xưa Đế Thừa con của Thần Nông, có 3 con trai là Đế Minh, Đế Nghi và Đế Long. Ba người con của Đế Thừa đều làm vương ở 3 phương, ghép 3 chữ “Vương” thành chữ “Quỷ”. Hay nói cách khác tục thờ cúng những vị vua có công đã tạ thế và họ tồn tại anh linh. Chữ “Quỷ” còn có nghĩa là Ma quỷ. Xưa quan điểm những người chết bình thường là vong linh không thể thành quỷ được, chỉ những bậc đế vương, thần linh được tôn thờ, có anh linh và gọi là “quỷ”.</p>
<p>Đối với người Trung Quốc người ta sợ chữ quỷ, họ hiểu chữ “Quỷ” là cái gì đó ghê gớm, tà ma, mặt đen... bắt nguồn bởi khi xưa người phương Bắc xuống xâm chiếm phương Nam giết hại vô số , và bị người bách việt trả thù báo thù  trong truyền thuyết họ gọi những người bách việt trả thù bằng cái từ Quỷ bởi họ là những kẻ đi xâm lược, luôn sợ bị rình rập báo thù bởi những người bản địa mặt đỏ…, thoắt ẩn thoắt hiện… hình thành nên tư tưởng  cho rằng đó là trả thù  ma quỷ báo oán).</p>
<p>(Trong lịch sử người Phương Bắc xâm lược nước ta gọi ta là nước nước Xích Quỷ, Xích ý tượng trưng cho người phương Nam, Quỷ chỉ một người xăm mình trần trụi, trát mặt màu đỏ hay trang trí buộc tóc bằng khăn vải đỏ hoặc lông chim trĩ đỏ cứ đêm đêm những người Xích quỷ  thoắt ẩn thoắt hiện xâm nhập vào phục kích bắt giết người phương bắc xâm chiếm hay từ Quỷ còn có nghĩa là trung thành.)</p>
<p>Quỷ cũng có công khai sáng, truyền dạy, cũng có anh linh. Tuy không mức rộng như Thần giáo hóa một phương, một vùng đất, hay vị Thánh...  nhưng cũng có anh linh được phụng thờ, có thể có cả tính truyền thừa (gia tiên, tổ thần... bảo hộ, che chở, khai sáng, truyền lại cho thế hệ sau người Việt).</p>
<p>Người Việt ta hay nói “Quỷ thần hai vai” là ý rằng con người sinh sống luôn có phần âm hỗ trợ bên cạnh, có Quỷ (gia tiên tiền tổ, bậc anh linh),  và Thần (những vị cai quản vùng đất đó).</p>
<p>Sau này vì người tầu họ ấn tượng cảnh trả thù báo thù phục kích..... của người xích quỷ lên họ cứ cái gì giết tróc báo oán họ đều gán cho từ quỷ rồi ảnh hưởng 1000 năm đô hộ và  nhiều ngoại đạo quy chép quỷ với tà ma hay ghép với tà tinh hay cái gì đó rất xấu xa... nhưng không phải. Đôi khi bởi sự khác nhau giữa các nền văn hóa, hoặc tôn giáo hoặc chăng bởi một số kẻ dã tâm muốn ghán ghép để mê mờ người thiếu hiểu biết, nhằm hạ thấp một nền văn hóa hoặc tâm linh hoặc dân tộc bách việt hay một tôn giáo khác.</p>
<h2>4. Tiên 仙</h2>
<p>Chữ “Tiên” 仙  chiết tự bao gồm chữ Nhân và chữ Sơn. Ý là người tu luyện trên núi hoặc người đi lên núi chứ không phải ý chỉ bay bổng hay siêu nhiên gì.</p>
<p>Hoặc trong tín ngưỡng tâm linh của Đạo giáo TQ cũng có ý chỉ những vị Đạo tổ Tam thanh ... lục Ngự Cao chân...</p>
<p> Trong văn hóa dân gian truyền thống đạo giáo Trung hoa,  tiên được thờ trong đạo giáo TQ cũng chia thành cấp bậc như:  địa tiên, thiên tiên, kim tiên, đại la Kim Tiên ...... thậm chí có cả Quỷ tiên, hay Ma tiên... ( ám chỉ các chân linh tạ thế bằng lý do nào đó vẫn ở thể linh hồn không thân xác tu luyện đạt quả có đạo hạnh, thành Đạo) và Yêu tiên (chỉ những tinh quái hay động vật tu luyện mà thành )</p>
<p>Hoặc đối với Việt Tộc, Tiên cũng chỉ những vị là con trời, người trời xuống trần đầu thai thành người trong văn hóa Việt Nam (lưu ý Ông Trời của Việt Tộc chứ không phải ông Đông Phương Công tu nhiều kiếp thành ngọc hoàng của văn hóa TQ)</p>
<p>Trong tín ngưỡng dân gian TQ hay đạo giáo Trung hoa Từ 仙Tiên cũng có ý chỉ những vị lên núi tu luyện ..... trong một số trường hợp nhất định dân chúng TQ hay gọi các đạo sỹ là tiên gia, tiên Trưởng.....</p>
<p> Đạo giáo lấy tôn chỉ hòa hợp với thiên  nhiên (xa thế nhân lên núi tu luyện lánh trần tục  và lấy cốt yếu là tu luyện để thành đạo sống lâu...., trường sinh của thân thể, hoặc người có học thuật có đạo hạnh mà tính tình hay hành vi siêu phàm, không dung tục.</p>
<p> hay những đạo sĩ tu theo đạo giáo luyện đan luyện  thuốc trừ cơm tu hành, cầu cho sống mãi không chết cũng gọi là tu tiên (Theo phái Đan đỉnh , Hoàng lão đạo, ....)  đều gọi là 仙 tiên gia.</p>
<p>Chỉ có phái nhất chính (chính Nhất ) trong hệ thống đạo giáo, phái này do Tổ sư Trương Đạo Lăng lấy tín ngưỡng và thuật đạo của Thần đạo vu thần của dân Bách Việt và kết hợp với thần đạo TQ  và Hoàng lão Đạo sáng lập truyền lại  (được gọi nôm là Đạo giáo thần tiên) với xuất phát là chủ trương hòa hợp với nhân gian. Những người theo phái này cũng gọi là đạo nhân hay đạo gia.</p>
<p>Hoặc theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc tôn thờ các thần nhân trong văn hóa tín ngưỡng đạo giáo Trung Quốc đã thành Tiên nhân có thể về đạo hạnh hay hoặc thuật pháp...là những người tu luyện đắc quả đạo có thể được ngai vị.</p>
<p>Còn anh không đắc quả đạo đơn thuần chỉ là người đi lên núi tu luyện cũng thường gọi nhau là người tu tiên, tiên trưởng.</p>
<p>Ngày xưa vẫn gọi các cụ đạo sỹ là lão đạo, tiên trưởng chứ ít gọi đạo trưởng.</p>
<h2>5. Phật (佛)</h2>
<p>Phật (佛) chiết tự gồm chữ Nhân và chữ Phất, ý là con người đi lên đến đỉnh cao.</p>
<p>Đạo Phật của Việt Nam phần nhiều ảnh hưởng từ Trung quốc, xưa Trung Quốc hay gọi những vị vua chúa, thái hậu là “Phật gia”, “Lão Phật gia”, đây là ý chỉ những người đã đi lên đến tận cùng của một vấn đề gì đó.</p>
<p>- Đạo Phật nguyên thủy chỉ công nhận Đức phật Thích ca là thành Phật hay còn gọi là Ông Bụt (Phật giác ngộ khai sáng ra đạo Phật).</p>
<p>- Đối với người theo đạo Phật đại thừa Trung Quốc thì:</p>
<p> Phật chỉ đức tối cao như Đức Thích Ca, ngoài ra những vị sau này được người Trung Quốc ghán ghép vào Đạo Phật như: Đức Di Đà của kỳ na giáo, Phật Như Lai (lấy nhân xưng của Phật Thích ca truyền giáo để lập thành) hoặc Phật Quan Âm (ghép vị công chúa Triều Tiên thần chủ của tín ngưỡng thờ nữ thần Áo trắng của Triều Tiên là Diệu Thiện )...sau này có chuyển hóa quy về một số nhân xưng Bồ Tát khác....</p>
<p>Hay những vị Thần Tiên cổ xưa của các đạo khác, các vị thần linh trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc hay tín ngưỡng Tam Giáo Trung Quốc, các vị trong Thần đạo Bà La Môn hay Minh giáo như: Đức Di Lặc, Quan Công, Tứ vị Kim Cương, 12 vị thần tiên đạo giáo hoặc các vị Kim Cương của đạo Pon Tây Tạng (VD:Kim Cương tài thần, Hoan Hỷ Phật...) được người Trung Quốc chèn vào đạo Phật thì gọi chung là Phật.</p>
<p>Hoặc những vị đệ tử của Phật Thích Ca là các bậc la hán tôn giả... hoặc các tổ Phật giáo Trung Quốc như Long Thọ... hay vị sư họ kim .... Phật Địa Tang...  được đưa vào Thích giáo.</p>
<p>Thực ra với bản chất truyền thống văn hóa đa thần vạn vật hữu linh trong con người Việt và trí tuệ của các tổ sư người Việt khi tu Phật cũng đã nhận định và cải biến tu theo đạo Phật bằng cách đại thừa của Việt tộc ta từ xưa rồi. Nhiều vị Phật trong Đạo Phật Việt cũng lấy những vị thần bắt nguồn từ tín ngưỡng Việt Tộc (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện...). Nhưng giờ bởi bội nhiễm quá nhiều tư tưởng Phật gia Trung Quốc sính ngoại nên quên nguồn gốc thôi.</p>
<p>Kể cả cách tu hành, các cụ Việt ta nhận định Đức Thích Ca là một vị đại giác Đại Thánh, mà người tu theo đạo của ngài thì gần như tất cả trí tuệ và căn cơ có giới hạn không thể toàn giác giống Đức Thích Ca được nên các cụ ta chọn giác từng phần, giác một phần, tích tiểu thành đại và dần thành đạo. Dù giác một phần cũng đủ .Vậy ngoài Bụt Thích Ca Mầu Ni, còn lại người đứng trên đỉnh cao của abc...  giác một mặt nào đó cũng có thể gọi là Phật.</p>
<p>Ngay cả việc giao thoa tín ngưỡng thần đạo Việt tộc với đạo của bụt đã có từ xưa tiền thần hậu Phật hay tiền Phật hậu thần hoặc có nhà mẫu trong chùa là bình thường.</p>
<p>Dân ta giờ sính ngoại đến mức sẵn sàng tôn sùng Các vị thần linh của dân tộc khác được gán ghép thờ phụng thành Phật hay bồ tát trong chùa , thậm chí sẵn sàng tung hô pháp môn hầu đồng trong mật tông hay những sa man của kim cang thừa, tín ngưỡng Trung Hoa biến tấu... nhưng lại chê bai cái sự giao thoa thần đạo Việt.</p>
<p>hoặc có chút giả cầy như chùa ba vang sẵn sàng bài xích Nhà Mẫu trong chùa, bài xích Phật Bà Quan Âm nhưng lại tôn thờ Phật Di Lặc hoặc Tứ đại kim cương (Ma lễ thanh, Ma lễ hồng... của tín ngưỡng dân gian trung hoa)...</p>
<p>Việc tôn thờ các vị Phật của dân tộc khác được giao thoa trong đại thừa cũng không sao, thấy tốt thì học nhưng chăm sính ngoại mà bài xích tín ngưỡng Việt đã giao thoa trong Phật giáo  là thiển cận.</p>
<h2>6. Thánh (聖)</h2>
<p>Thánh (聖) chiết tự: Chữ Nhĩ : chỉ cái tai  nghe nhưng không chỉ nghe mà còn thấu hiểu.</p>
<p>Tai của một vị Thánh nghe được hết, hiểu được hết dù anh nói thầm trong lòng hay mới mở lời Thánh nhân đã nghe và hiểu (bách sự thông, tài như Thánh)</p>
<p>Chữ  “ Khẩu” ý chỉ cho lời nói, thuyết pháp, truyền đạo, giáo hóa, lí lẽ cho chúng nhân.</p>
<p>Các vị đó nói những câu để chúng nhân biết được, để giáo hóa chúng nhân, để chúng nhân biết được hiểu được ... hướng con người đến an vui, hạnh phúc và chân - thiện - mỹ - đức, xã hội hòa bình phồn vinh phát triển.</p>
<p>Dưới cùng có chữ “ vương” ý là Thánh có quyền hành, có thể che chở cộng đồng, dân chúng.... cũng có ý đến vua cũng có khi phải nghe, phải cầu.</p>
<p>Các vị có đức hạnh cao và thông hiểu sự lí vượt khỏi cái tính phàm trần mà vào bậc thánh, có học thức hoặc tài nghệ đã đạt tới mức cao thâm, sáng suốt, đức hạnh cao, thông đạt, cái gì cũng biết tỏ. Thánh không bắt buộc phải là con người hay có hóa thân là người.</p>
<p><strong>Bậc Thánh có 4 dạng:</strong></p>
<p><strong>1. Khai giáo truyền đạo:</strong></p>
<p> Các vị như đức phật, các vị Lão Tử,  Khổng Tử... cũng là thánh nhân vì các vị khai giáo truyền đạo, các vị nghe được mọi thứ trên thiên hạ và truyền lại  cho mọi người. Gọi là Thánh nhân truyền đạo tải đạo dậy đạo.</p>
<p>Hoặc đạo Mẫu Việt ta có đức Thánh Chử Đồng Tử truyền lại pháp môn tu hành... như quán âm thần thuật (“Quán âm” chứ không phải “Quan âm”), đức Thánh Mẫu Vân Hương  Quỳnh Cung Duy tiên công chúa đã tổng hợp pháp môn tu hành... hầu đồng thông công thần thánh truyền lại với một thể thống nhất như ngày nay.</p>
<p><strong>2. Biết trước được tất cả những cái sẽ xảy ra về sau:</strong></p>
<p>Như Trạng Trình xưa biết những chuyện trước mấy trăm năm, hay Cô Chín biết trước những việc và làm những việc mấy trăm năm sau người đời vẫn được ân hưởng, cộng đồng, quốc gia, đạo.. đó được ân hưởng . Gọi là Thánh Nhân</p>
<p><strong>3. Tài đức sinh Thánh</strong></p>
<p>Anh linh thần võ hiển hách đến tận cùng, tài năng không ai sánh bằng giữ nước được độc lập bảo trợ cho dân chúng yên bình ấm no một thời gian dài thịnh trị cũng được gọi là võ Thánh hoặc nhân Thánh , ví dụ như Đức Thánh Trần, Thánh Gióng hoặc có một mặt nổi trội vượt qua người thường mà không có người nào sánh bằng (Các cụ vẫn nói: “Tài như Thánh” là vì vậy).</p>
<p><strong>4. Âm Thánh:</strong></p>
<p>Có thể gọi là Thần linh nhưng chính tắc gọi là “Thánh” là được các triều đình phong kiến sắc phong: bảo quốc an dân, hộ quốc an dân, hộ quốc tý dân... được gọi là Thánh. Bảo hộ cho quốc gia, cộng đồng... cả cho đời sau cả về dương phần và bảo hộ cả về âm phần.</p>
<p>Vị thần linh trong sắc phong thần chỉ có “ bảo ngã lê dân” không thì gọi là Thần.</p>
<p>Nhưng có “hộ quốc tý dân”, “Hộ quốc an dân”  thì đó là “Thánh” dù là Thánh Hoàng Làng hay Thánh cả quốc gia (Phúc Thần)</p>
<p>Nhắc rằng: Không được nhạo báng biến tướng hay đánh đồng những khái niệm trên.</p>
<p>Đặc biệt tại sao Đạo Mẫu được gọi là Đạo Thánh ở chỗ này</p>
<p>“Thánh” có thể là “Thần” nhưng “Thần” chưa chắc đã là “Thánh”.</p>
<p>Các vị thuộc Tứ Phủ đa phần đều là hàng “Thánh”, là những vị được chính các nhà vua đứng đầu đất nước đại diện cho việt tộc cho quốc gia xã tắc các thời đại cầu đảo và ra sắc phong nhằm bảo hộ quốc gia (Phúc Thần, Âm Phù hộ quốc, bảo ngã lê dân, sắc Thần vị tổ chức Quốc Gia hương thôn tế tự ).</p>
<p>Các vị Thánh về quan điểm cổ xưa phải xét đến sắc phong thần. Trong nước Việt ta thì vị nào sắc phong là thượng thượng thượng đẳng tối linh là đứng đầu trong sổ của phủ giám bách thần thuộc bộ càn bộ đứng đầu Thần linh ( trong 8 bộ phong thần Việt tộc )  trong sắc phong thì vị đó ở mức cao, vị nào ở mức thượng đẳng thần ở bộ khôn thấp hơn hoặc các bộ thấp hơn nữa....</p>
<p>Ở Việt Nam các vị như Lão Tử, Khổng Tử, Phật hay Đông Phương Công (Ngọc Hoàng Trung Quốc) ......đều được phong Thần  (thường là thượng đẳng thần) thậm chí đến thân sinh của phật hay thân sinh bà quan Âm cũng được Phong trung đẳng thần.</p>
<p>Chỉ có 4 vị tứ bất tử và Đức Thánh Trần là ở bậc cao nhất được phong Thượng Thượng Thượng đẳng tối linh Thần là ở bộ Càn đứng đầu sắc phong Thần. Gọi là Thánh Nhân (Đạo Chủ, Đạo Tổ, Thánh tổ của người Việt).</p>
<p>Nói thêm rằng:  dã thần, tà thần không được phép phong thần.</p>
<p>Trong đạo Mẫu nhất là vùng cao các cô như Cô Bé cửa rừng như Cô Voi Xô,  Cây Xanh, Cô Bé Mỏ Than, ...... được phối thờ vào Đạo Thánh tứ phủ hoặc các các vị bản cảnh khác... đa phần đều ở mức Trung đẳng Thần và Hạ Đẳng Thần... các cô, các vị không có sắc phong, vị bản cảnh cũng ở mức Hạ đẳng thần... thường không hầu. Nếu có duyên hầu ,chỉ hầu khi về nơi bản cảnh đó nhưng không bắt buộc.</p>
<p>Hoặc có những vị có anh linh được thờ cúng tại nhiều nơi có thể tự phát nhưng bản chất có thể là thần nhưng chỉ là hạ đẳng thần (là thần vị ở mức cơ sở của Thần) thậm chí hạ hạ đẳng thần (mới đạt tiêu chuẩn được thờ cúng) - đặc biệt đôi khi là tự phát, có anh linh, bảo hộ cho một nhóm người, một vùng đất... nhưng nếu cố tình biến tướng đánh đồng hoặc để mặc cho chúng dân/ những kẻ tín phụng mình có những hành động biến tướng đánh đồng tự ý gán ghép với Thánh đạo, tải sai đạo Thánh (truyền bá mê tín dị đoan như: cho lộc cờ bạc lô đề, hầu vô tội vạ.... chẳng hạn ) thì trong cõi u minh thường bị truất thần vị, miếu đền thường được thiên tượng ứng báo cháy nổ hay sét đánh...</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Dấu hiệu nhận biết bạn là đồng âm?</title>
<link>https://tuvidonga.com/dau-hieu-dong-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/dau-hieu-dong-am</guid>
<description><![CDATA[ Đồng âm và đồng dương có nhiều điểm chung, nhưng theo quan niệm đồng âm và đồng dương vẫn làm việc thánh, có nhiều quan điểm khác nhau, bài viết này giới thiệu để tham khảo. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635bd98658bc.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:04:59 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>dấu hiệu nhận biết bạn là đồng âm</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Đồng âm và đồng dương có nhiều điểm chung, nhưng theo quan niệm đồng âm và đồng dương vẫn làm việc thánh, có nhiều quan điểm khác nhau, bài viết này giới thiệu để tham khảo.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635bd9846d91.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p>Những DẤU HIỆU nói lên bạn là một ĐỒNG ÂM</p>
<ol>
<li>Thường có linh cảm hoặc được báo về một sự việc sắp xẩy ra trong thời gian gần, thường nó xẩy ra như mình linh cảm thấy.</li>
<li>Hay mơ mộng hoặc đôi khi được ứng báo về một hay nhiều sự việc tương lai (tương lai dài – có thể nhiều năm sau) của một hoặc nhiều người, thậm chí một một cộng đồng (khả năng tiên tri).</li>
<li>Hay thơ thẩn vẩn vơ thỉnh thoảng vô định trống rỗng, hoặc quấn tâm vào một thế giới huyền ảo, cõi nào đó.</li>
<li>Tin vào ma tà, tin vào nhân quả, nhưng nghi ngờ đủ thứ kể cả Nhà Thánh.</li>
<li>Ốm đau vặt vãnh không tên liên tục. Đi khám lại không ra bệnh, thậm chí khỏe mạnh hơn người. Nhưng về nhà lại mệt mỏi, người yếu ớt như không có sức sống.</li>
<li>Dễ bị ốp nhập, bị âm khí tác động nặng nề (mệt mỏi, mất kiểm soát, lạnh người, run rẩy…)</li>
<li>Có người có khả năng giao tiếp với đằng âm (nghe/nhìn thấy người âm) hoặc có thể đọc được suy nghĩ của người khác (cả âm và dương).</li>
<li>Người hay bị tự dưng mệt mỏi vô cớ như sắp hết sức (bị rút hết sinh lực) hoặc tâm trạng bất an, nóng nảy, bồn chồn… khó kiểm soát. Chỉ thời gian ngắn sau có thể trở lại bình thường như chưa có gì xảy ra.</li>
<li>Tính khí nóng lạnh bất thường, đa sầu, đa cảm, hay cả nghĩ, dễ giận, dễ hờn, dễ tủi nhưng lại dễ thỏa hiệp và bỏ qua.</li>
<li>Có những trường hợp cứ 14,15, 30, mùng 1, hoặc những ngày tiệc Thánh (dù không hề biết hoặc không nhớ) là trở nên ẩm ương, cáu gắt khó chịu, ăn uống, ngủ nghỉ không được... Qua những ngày đó hoặc đã được đi lễ Thánh tự khắc trở nên vui vẻ, yêu đời.</li>
<li>Khi trái gió trở trời người như cây dự báo thời tiết chuẩn, đặc biệt những thời điểm năng lượng từ trường mạnh như nhật thực, nguyệt thực…cơ thể có sự cảm nhận rõ rệt.</li>
<li>Nhận biết người đối diện là kẻ thiện lành hay người xảo trá ác tâm rất nhanh.</li>
<li>Ai đó đang kém may giao du với bạn dễ đổi vận được may mắn. Nhưng khi bạn trù ẻo ai thì họ khó có thể ngóc đầu lên được.</li>
<li>Đem lại điều may mắn cho người khác khi làm đúng đạo nhưng nếu mượn đạo tạo đời thì sẽ là tai họa cho nhiều người.</li>
<li>Là người rất có phúc nhưng gặp phải rất nhiều thị phi, oan trái khi ban phúc cho người khác.</li>
<li>Là người tốt vía, mua đâu đắt đó nhưng nếu ghét ai mở mồm chê bai thì người đó sẽ phải vía.</li>
</ol>
<p>Ví dụ như khi đi chợ, một hàng quán đang ế, bạn vừa sà vào có ý định mua gì đó thì rất nhiều khách khác ùa tới,  nhưng nếu không vừa ý và không mua do chủ cửa hàng thái độ là y như rằng hàng đó ế ẩm ngay kể cả khi họ đang đông khách.</p>
<p>(Vậy nên các cửa hàng bán cho cô cậu đồng chú ý đừng kênh kiệu, hãy cố chiều bọn ẩm ương dở một chút, không vía họ lành thì may chứ nhưng khi dữ thì hơn ma).</p>
<ol start="17">
<li>Ngược lại, hãn hữu một số đồng âm có thể rất dữ vía. Đó là trường hợp đồng âm có binh hoặc gia nô binh chưa được chấn chỉnh đội ngũ hoặc vong tà bám tá đi theo quá nhiều. Đi đến đâu, làm ở đâu là chỗ đó rất khó bán hàng, có khi bình thường bán hàng đông không kịp bán, nhưng cứ ca kíp của người này là không có ai mua hoặc rất kén chọn, hoặc làm ở đâu được vài tháng là nơi đó phá sản, giải thể... Dù là tự kinh doanh cũng không ngoại lệ.</li>
<li>Lúc khó khăn luôn có lối thoát</li>
</ol>
<p>Ai cũng có thể gặp khó khăn trong cuộc sống. Nhưng riêng bạn, bạn thường tìm được lối thoát nhanh chóng cũng như xuất hiện tình huống thuận lợi bất ngờ hoặc có người tự dưng hỗ trợ (quý nhân phù trợ). Bởi rằng có bà cô tổ hoặc các vị hộ đạo nâng đỡ (trừ khi bị nhà Thánh thải đồng).</p>
<ol start="19">
<li>Tai qua nạn khỏi trong những tình huống hiểm nghèo</li>
</ol>
<p>Nhiều lúc nhẽ ra bạn sẽ bị một hạn nặng nào đó có thể nhìn thấy. Nhưng không hiểu vì sao những người khác bị còn bạn thì không.</p>
<p>Ví dụ như trong một vụ tai nạn tập thể nhiều người bị thương hoặc mất mạng, nhưng bạn không hề hấn gì dù đi trên cùng chuyến xe.</p>
<ol start="20">
<li>Khi có dịch bệnh gần như ai cũng mắc và thường chuyển nặng. Bạn lại không bị hoặc có bị cũng khỏi rất nhanh hơn người bình thường, thậm chí bị 2-3 lần cũng không hề hấn gì.</li>
<li>Làm gì về việc dương cũng khó thành công khi chưa yên căn số và chưa phụng Thánh làm việc âm. Nhưng khi đã làm việc âm và nhất tâm đúng đạo thì bạn kinh doanh, làm việc công sở hay làm bất cứ điều gì, đều tốt hơn những người khác.</li>
</ol>
<p>Ví dụ: ở cùng dãy phố kinh doanh một mặt hàng, bạn luôn đắt khách hơn cả. Trong khi cả dãy phố kinh doanh đang ế ẩm, bạn vẫn bán hàng đều đều.</p>
<p>Cùng buôn bán một sản phẩm, bạn bán đắt hơn người khác nhiều lần nhưng khách hàng vẫn mua của bạn.</p>
<ol start="22">
<li>Có nhiều bạn bè quý mến, nhưng hay bị bạn phản dù thân tình với nhau</li>
<li>Có được người vợ hay chồng lý tưởng nếu trọn đạo, nhưng chỉ chếch lệch là tan vỡ sau phút mốt và phần long đong về tình cảm cô độc không ai hiểu mình chiếm rất lớn.</li>
<li>Một người có phúc nhờ tích đức sẽ là người gặp được ý trung nhân hết lòng vì họ.</li>
<li>Đồng âm thường có ngoại hình dễ nhìn hoặc gây thiện cảm.</li>
</ol>
<p>Người là đồng âm và có phúc thường được ban cho ngoại hình đẹp đẽ hơn người. Đặc biệt họ có đôi mắt sáng và rất linh hoạt… khiến người đối diện càng tiếp xúc lâu càng quý mến, trân trọng; còn những kẻ lòng dạ xấu xa hoặc tà ám thì không dám nhìn thẳng.</p>
<p>26 thỉnh thoảng mơ độ vong, hoặc được dậy học âm , hoặc dạo chơi đền chùa ,</p>
<p>Chiếm 70 % các yếu tố trên là Đồng Âm. Bạn thấy mình đúng bao nhiêu %?</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Ý nghĩa của việc Hầu Đồng là gì?</title>
<link>https://tuvidonga.com/y-nghia-hau-dong</link>
<guid>https://tuvidonga.com/y-nghia-hau-dong</guid>
<description><![CDATA[ Lên đồng không có nghĩa là diễn xướng đơn thuần, mà là đang chuyển hóa cái tâm mình từ cuộc sống vô minh không có nhận thức được đúng sai, biết và cái không biết của đời sống hàng ngày thành trí tuệ, thành Thánh đức, để nhìn vào những tấm gương của chư Thánh, học theo chư Thánh, khám phá đạo cơ. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6635c0347e741.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:04:20 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>ý nghĩa hầu đồng</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Hầu Đồng chiếc chìa khóa mở cánh cửa tìm chiếc gương phản chiếu hoàn thiện mình.</p>
<p>Vì bài viết trước dài quá nên tôi rút gọn lại.</p>
<p>Ai cũng có sai lầm trong cuộc sống nhưng không thể nhận ra.</p>
<p>Chỉ có những người có niềm tin về tôn giáo mới ít mắc lỗi.</p>
<p>Tôn giáo như tấm gương!</p>
<p>Ta phải cần tấm gương đó vì để có tấm gương chiếu ngược lại mình.</p>
<p>Vậy tóm lại để thành người sống có chỗ gửi thác có chỗ về thì phải có tấm gương soi để nhắc nhở mình, có nơi gửi gắm Thần Hồn, có nơi nương tựa về Tâm Linh thì mới hoàn thiện.</p>
<p>Loài người từ khi sanh ra đã có niềm tin về tâm linh, niềm tin vào những bậc siêu nhiên đã vượt qua từ “Con Người” (Không riêng gì Đạo Mẫu).</p>
<p>Về những sự tích hiển Thánh hay truyền thuyết về pháp thuật thì chưa nói, nhưng sự anh hùng và tài năng cũng như sự thánh thiện, bao dung, nhân đức, yêu giống thương nòi.... của chư Thánh cửa Đình Thần thì không phải nghĩ bàn.</p>
<p>Công đức ấy và nhân cách của các bậc Thánh Việt Nam đã vượt qua, con người bình thường về mọi mặt. (dù là các bậc chí tôn hay Thánh nhân tự nhiên thành Thần hay do dân nguyện hun đúc bằng tín ngưỡng lực cũng vậy).</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6635c03463cef.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p>Vậy có căn quả xuất thủ trình đồng trước tiên ta phải hiểu là: nhập đạo để không vì có sự độ trì ngay của chư Thánh hay để nâng cao năng lực hay thần thông gì, mà là nhập đạo để học hỏi, đó là một hành trình tìm kiếm tâm linh và cũng là tìm lại chính mình.</p>
<p>Lên đồng không có nghĩa là diễn xướng đơn thuần, mà là đang chuyển hóa cái tâm mình từ cuộc sống vô minh không có nhận thức được đúng sai, biết và cái không biết của đời sống hàng ngày thành trí tuệ, thành Thánh đức, để nhìn vào những tấm gương của chư Thánh, học theo chư Thánh, khám phá đạo cơ.</p>
<p>Cũng là để cuộc sống đời thường được chuyển hóa theo mang đến hạnh phúc cho mình, cho người xung quanh, cho thân tâm thanh thản an lạc.</p>
<p>Cha Ông ta có câu:</p>
<p>“Đạo đồng là cõi phúc, đời là dây oan”.</p>
<p>Vậy có Đồng có Đạo phải là cõi phúc chứ.</p>
<p>Vậy mà hiện nay có đồng lại bị hiểu ngược lại.</p>
<p>Vì nhập đạo mình đang tìm đường vượt cõi phiền não, khổ đau, cơ hành, căn mạng, nghiệp lực, và sự không biết cân chỉnh cân bằng của đời sống thực tại đến cõi phúc để nhận ra bản lai, bản ngã, cái chân thực của mình, noi theo gương Thánh nhân, để đời an nhiên, và hạnh phúc theo.</p>
<p>Vậy, bởi vì nhân duyên kiếp này ta có căn mạng xuất thủ trình đồng và nhập Thánh Đạo, là hành trình đi tìm khám phá một phương pháp không có trong đời thường.</p>
<p>Một hành trình để chuyển hóa tâm linh và con người mình.</p>
<p>Cũng là hành trình gửi gắm để nhận được sự, sáng suốt, sự tu chỉnh hoàn thiện con người mình, cho đúng là người có đạo.</p>
<p>Nhưng hành trình đó không khéo, không đi đúng đường, thì thường bị ngược lại (có thể mới trình đồng Thánh giáng một ly một lai sau lại không bao giờ được).</p>
<p>Nhập đạo hầu Thánh cũng như người đi bắt rắn độc mà biết sử dụng một khúc cây có nạng sắt (phương pháp phương tiện) khi đi đến vùng hoang dã, trên con đường đi thấy rắn lớn, họ ấn nạng ngay xuống cổ rắn và lấy tay bắt ngay đầu rắn. Rắn kia tuy có thể quẫy đuôi, quấn tay, quấn chân hoặc một bộ phận khác của cơ thể người bắt rắn, nhưng không thể nào mổ người ấy được.</p>
<p>Bắt rắn như vậy không cực khổ mà cũng không lao nhọc, chỉ vì người ấy biết rõ thủ thuật bắt rắn.</p>
<p>Người có đồng cũng phải khéo léo tiếp nhận những tinh túy và loan giá một cách chuyên nghiệp, không đảo lộn thì mới hiểu được sự cốt lõi và ngộ được Thánh đức trong đạo, nắm được các pháp chánh thống, cái tinh túy cốt lõi.</p>
<p>Họ biết không phải hầu đồng với mục đích khoe khoang tiền của hay mong cầu, không lai căng, không vì một cái gì ngoại lực tác động mà chỉ bắc ghế với mục đích tìm cầu tấm gương soi chiếu của đạo. Họ không bao giờ áp dụng những cái của đời sống vật chất và cái tầm thường của thế nhân lên điện Thần khi hầu Thánh.</p>
<p>Dù phải bị chê bai đàm tiếu và trải qua những cực khổ và nhọc nhằn nhưng họ cũng không bao giờ áp dụng ngược lại, đưa những cái tầm thường của cuộc sống hàng ngày đến với chiếu hầu.</p>
<p>Hiện nay phần nhiều là làm ngược lại. Không nhập đạo để soi gương Thánh đức, Thánh minh, tu chỉnh để hoàn thiện mình. Ấy vậy lại mang cái xấu xa tầm thường của đời áp dụng cho đạo.</p>
<p>Âu cũng là thời cuộc đưa đẩy.</p>
<p>Trước đây một bản hội chỉ thu nhận con nhang trong làng trong tổng nhằm mục đích dậy bảo đào tạo cho kín kẽ, nắn chỉnh cho tân đồng vào nếp, dậy bảo đường đi lối về. Bây giờ qua thời gian dài cấm đoán mất gốc, mất sự tinh túy, lại mở phủ quá nhanh không có sự định hướng nên loạn, tranh nhau làm Thầy đua nhau phá đạo, phá vỡ truyền thống ngàn đời của dân tộc.</p>
<p>Mở phủ cho người rồi không dậy chỉ vì đông con nhang, chỉ vì danh, vì lợi, tiền tài… có xứng đáng là kẻ ăn cơm tứ phủ mặc áo Đình Thần không? Có xứng đáng với hai chữ quan Thầy của Đạo không?</p>
<p>Các cụ ngày xưa trân trọng lắm!</p>
<p>Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm! Nếu mình không biết bắt rắn bằng đầu của nó, mình sẽ bị nó cắn lại.</p>
<p>Cho nên có thể nói rằng nhập đạo hầu bóng không phải là khi hầu mới học theo gương Thánh, hầu cho giống Thánh, giống quan... mà ngoài đời cũng phải lấy Thánh nhân làm gương mà sống theo tôn chỉ của Thánh nhân.</p>
<p>Tuy rằng tín ngưỡng Đạo Mẫu và cửa Đình Thần là Shaman nguyên thủy, đi kèm vào đó là sự huyền bí và có chút huyền hoặc nhưng bản chất tất cả các tôn giáo hiện tại đều là huyền hoặc, thậm chí dị đoan gấp ngàn lần Đạo Mẫu.</p>
<p>Đạo Mẫu vẫn nổi trội, trường tồn và luôn song hành trong lòng dân tộc Việt Nam, đại diện cho võ công hiển hách giữ nước thương nòi, cho những giá trị văn hóa và văn hiến nhân văn truyền thống.</p>
<p>Vì có tính thượng tôn anh hùng dân tộc, tính nhân văn cao cả, sự chan hòa giản dị, bao dung, từ ái vô bờ bến của Thánh Nhân Việt, hướng cho con dân  yêu thương đùm bọc lẫn nhau, hết mình vì sự hòa bình, sự phồn vinh, thịnh vượng của dân tộc này. Giúp con dân sống hạnh phúc, ấm no, an lạc, xa lìa phiền não, khổ đau.</p>
<p>Thế còn các huyền lực và các pháp (năng lực đặc biệt) của cửa Đình Thần, làm sao để được nhận cái Thánh Ân đó?</p>
<p>Đấy là những phương pháp hành đạo (Ơn trên ban).</p>
<p>Năng lực đó để ta quảng đại đạo pháp, phát dương ngọn cờ Đình Thần tam tứ phủ, cứu khổ độ mê cho đúng với tâm đức của Chư Thánh đã ban ân.</p>
<p>Nếu chúng ta sử dụng thích hợp dị năng đó. Dùng vào những việc mà không làm khuấy đảo âm dương, không lạm dụng hay vi phạm trong luân thường đạo lý, hành xử như một bậc đại diện của Thánh Nhân của cửa Đình Thần; chỉ sử dụng khi giúp đời giúp người không vụ lợi, mục đích gánh thay cho đời như chư Thánh thì việc đời việc đạo sẽ có tiến bộ.</p>
<p>Lên đồng là phương pháp, là chìa khoá để mở cánh cửa tâm linh của mình. Để tìm ra đúng chìa khóa để mở cửa, chúng ta phải nhất nhất tuân thủ đúng với tấm gương quán chiếu.</p>
<p>Tấm gương đó là: Thánh nhân Việt</p>
<p>Dùng trí tuệ để quán chiếu, soi sáng những thành quả ngày tháng áp dụng trên đường đời, sai đâu sửa đó.</p>
<p>Sẽ và chắc có quả đạt được qua công phu quán chiếu tấm gương từng ngày.</p>
<p>Nếu thấy thân tâm thanh thản an lạc là có tiến bộ.</p>
<p>Như vậy lên đồng mình đã tìm ra đúng chiếc chìa khóa cho tâm linh mình;</p>
<p>bằng không mình khổ, con cháu mình khổ vì phải ghánh thay nghiệp cho mình.</p>
<p>Nếu chúng ta thực hành tín ngưỡng này mà tâm mình vẫn còn phiền não, sân hận, cơ hành, vì tiền, vì danh, điêu ngôn sảo ngữ… thì rõ ràng chúng ta hoặc là đã sai đường hay là đã lạm dụng năng lực, hoặc chọn con đường nghịch đạo.</p>
<p>Lạm dụng Thánh ân không đúng vậy ổ khóa đạo đã không đúng chìa khóa.</p>
<p>Thôi buông mà sửa.</p>
<p>Người đi trước rước người đi sau...</p>
<p>Đồng Thầy là tấm gương, biết tùy cơ duyên của từng người, căn quả của từng người, nghiệp căn từng người để tùy bệnh mà cho thuốc. Do vậy, việc mở phủ cho người cần phải dụng tâm, quán xét mỗi khi dẫn trình, để con nhang tạm thời yên căn số lúc đó.  Nhưng đó chỉ là mở đường mở lối cho họ đến với con đường tâm linh.</p>
<p>Sau khi dẫn trình, ngoài những nghi thức hành lễ hay hầu hạ bắt buộc, còn đường phải đi thế nào thì phải hướng dẫn cho họ được biết.</p>
<p>Nói đến việc tùy duyên ứng đàn đó là ở trước mắt hoặc xử lý nghiệp căn trước mắt. Khi đã là thanh đồng thì lâu dài quan thầy phải giáo đạo cho vào khuôn phép.</p>
<p>Biết rằng nhập cửa Đình Thần không phải vì cái gì mà chỉ vì chìa khóa đến với tâm linh, tìm về tấm gương quán chiếu chính mình chứ không phải vì lợi lộc, thần thông hay bất cứ cái gì khác…, để “nước chảy một dòng thuyền xuôi một bến” như Thánh nhân Việt, “nhất một lòng tòng một dạ” với dòng máu đỏ da vàng Việt Nam… thì mới nên mở phủ.</p>
<p>Đừng có mong rằng ta phải có năng lực thần thông hiển hiển, lộc lá hay cái gì khác mà là tu chỉnh nghiệp căn, hết lòng soi chiếu tấm gương của Thánh đức, phát dương tín ngưỡng, một lòng một dạ nhất tâm quy hàng theo vào đạo rồi cha cắt mẹ cử phải làm gì thì cũng sẽ đi đến đích.</p>
<p>Tất nhiên để thụ hưởng được sự hạnh phúc, tài lộc, gia đình an lạc trong đời này, ngay bây giờ thanh đồng chúng ta phải thay đổi cách sống và cư xử hàng ngày (để quay lại cái đạo lý truyền thống từ xưa của các cụ).</p>
<p>Những thói quen từ hồi mở cửa kinh tế thị trường đưa ta đến sự sai lệch và biến tướng phải được cắt đứt, đình chỉ để tín ngưỡng của dân tộc ta quảng đại, nhân văn như vốn có từ xa xưa.</p>
<p>Mỗi chúng ta phải chiếu tấm gương của chư Thánh cho dù làm lại từ đầu, cuộn mình học hỏi như tằm ăn rỗi, để rồi một ngày giống như con kén đang lột xác hóa thành con bướm đẹp đẽ rực rỡ!</p>
<p>Thoát khỏi thời điểm mà đáng xấu hổ như bây giờ.</p>
<p>Chính trong quá trình quán chiếu bằng tấm gương Thánh Đức để sửa lại mình, các con mới thấy nhờ sự chuyển hóa, lột xác này chúng ta mới cảm nghiệm sâu sắc được thế nào là thanh đồng, thế nào là ân duyên, thế nào là Thánh đức.</p>
<p>Thánh nhân Việt không bao giờ buông bỏ con dân của mình!</p>
<p>Mọi chuyện không bao giờ quá muộn, đặc biệt những người đã sai đường.</p>
<p>Hãy nhìn hàng ngàn gương tầy liếp nhập ma chướng tà đạo, gia đình tan nát con cháu trả không hết nghiệp cho mình, chết đi chỉ là kẻ mang nghiệp và chắc chắn không bao giờ được bước vào cửa đình Thần để theo hầu chư Thánh ở thế giới bên kia, may ra chỉ có những kẻ tà đạo thu nhận làm âm binh cho chúng.</p>
<p>Vậy hành trình nhập đạo hầu Thánh là hành trình khám phá tâm linh của dân tộc Việt, là con đường đi để xây dựng nhân cách Việt.</p>
<p>An lạc trong hạnh phúc của truyền thống, cộng đồng, tìm lấy hạnh phúc, phú quý và bình an trong mỗi gia đình.</p>
<p>Tìm đến cội nguồn văn văn hóa tâm linh của dân tộc, phát huy tính văn hóa nhân văn của người con đất Việt… Chúng ta có thể tìm thấy trong tất cả các pháp môn truyền thống của tín ngưỡng và những câu hát văn (nghe văn thấu lộ) đều hướng về mục tiêu ấy.</p>
<p>Mà hễ tu chỉnh soi chiếu cân chỉnh lại từ trên chiếu hầu, từ câu văn để thực hiện ngay trong đời sống hàng ngày sẽ hết khổ, sẽ là vui, là hạnh phúc!</p>
<p>Tóm lại, con đường tâm linh của thanh đồng là nhìn lại những đầu mối gây đau khổ mà do chính mình đã tạo ra, những tâm tưởng lệch lạc, tự diễn biến trong tâm thức hay do môi trường sinh sống, trong quá khứ hay trong hiện tại.</p>
<p>Ta lần lần tháo gỡ, soi chiếu tấm gương học theo chư Thánh nhằm chuyển hóa những mối khúc mắc hay thay đổi cách sống, thái độ và tư tưởng sai lầm không nhận biết được thường ngày. </p>
<p>Nếu bắc ghế và chỉ chờ đợi một cơ may nào đó xảy đến để mình có hạnh phúc, tài lộc lâu dài là một sự mơ tưởng viễn vông, không đúng chánh đạo, là chưa biết học theo tấm gương, hình ảnh của chư Thánh Nhân Việt.</p>
<p>Một người thanh đồng phải có chánh kiến và nhìn nhận, là biết mình phải chọn cách nhắc nhở thân tâm thích hợp và gia công, quán chiếu để chuyển hóa chính mình.</p>
<p>Nếu chỉ biết “Nằm chờ sung rụng” thì biết ngày nào có được đạo tâm và trở thành “con cha con mẹ” đúng nghĩa, đến bao giờ mới có thể trở thành người đại diện cho một đạo pháp của dân tộc Việt Nam? Chỉ là vải thưa che mắt Thánh, sẽ không bao giờ có Thánh giáng đồng dù chỉ một ly một lai.</p>
<p>Còn ngoài ra toàn là lừa đảo, miệng trần nói có bóng thánh.</p>
<p>Trước khi viết bài này mấy Thầy trò tôi bàn luận và so sánh giữa Đạo Mẫu với những ShaMan giáo Á Đông khác.</p>
<p>Ví dụ như Tát Mãn Giáo và Thần Đạo Nhật Bản</p>
<p>Mới biết rằng: Những tôn giáo tương đồng với Đạo Mẫu.</p>
<p>Đặc biệt một tôn giáo đơn giản và gần giống với tín ngưỡng dân tộc Việt Nam đó là Thần Đạo của Nhật Bản.</p>
<p>Chỉ khác đi là họ không có hát văn và hầu bóng.</p>
<p>Nhưng họ có những Vu Nữ chuyên nhẩy múa dâng nên chư Thần, và thêm một công việc nữa là cầu xin thần linh giúp đỡ cùng làm bùa chú và bán chúng cho dân Nhật Bản.</p>
<p>Cái giống nhau là ngôi đền thờ thần đạo và các ngôi đền thờ thánh của Việt Nam có tín ngưỡng na ná như nhau.</p>
<p>Quá trình phát triển và hình thành của hai tôn giáo gắn liền với hai dân tộc, giống nhau đến 90%.</p>
<p>Nhưng họ có một ông vua trong lịch sử (Thiên Hoàng Minh Trị) ban chiếu chỉ “Thần Phật phân biệt lệnh” vào ngày 13/3 /1868 nghiêm cấm gán ghép Phật giáo và Đạo Giáo, loại bỏ toàn bộ những kinh kệ hay luật tục của hai tôn giáo này vào tín ngưỡng gốc của dân Nhật Bản và đến tháng 7 năm 1869 sau khi đã đính chính và cho về nguyên sơ.</p>
<p>Nhật Hoàng ban sắc chỉ phong Thần Đạo là quốc giáo.</p>
<p>Với lý luận rằng “IZANAGI” người sinh ra đất nước nhật bản và các vị thần… các vong linh tổ tiên dân tộc nhật.và các vị vong linh anh hùng dân tộc nhật bản các vị tiền nhân đã tạ thế (khai sinh ra văn hóa tín ngưỡng giá trị truyền thống của tâm linh dân tộc Nhật Bản) các vị Thánh nhân đó luôn luôn trường tồn và phù hộ độ trì cho dân tộc Nhật Bản.</p>
<p>Và cũng không có đi đầu thai như thuyết lục đạo luân hồi của Phật giáo (thuyết này Phật giáo vay mượn của Ấn giáo hin đu,bà la môn).</p>
<p>Và lại càng không có 10 vị diêm vương nào cả.</p>
<p>Không có một ai thế lực nào loại tín ngưỡng tâm linh nào có quyền phán xét các vị anh hùng và các vong linh tiền nhân của dân tộc Nhật Bản.</p>
<p>Các vị đó luôn luôn ở mồ mả lăng tẩm và các ngôi đền của Thần đạo, ở nơi ở của chư Thần và theo mỗi bước chân của nhân dân và dân tộc nhật bản phù hộ cho dân tộc Nhật Bản.</p>
<p>Bằng vào truyền thống nếu đã là dân Nhật Bản, phải học và noi gương các Thần linh dân tộc Nhật Bản.</p>
<p>Thời điểm trước thế kỷ 19, Thần đạo khi đó là một nhánh của Phật giáo (CHÂN NGÔN TÔNG do nhà sư Kôbô dung hòa tín ngưỡng nhật bản với đạo Phật từ thế kỷ thứ 6 qua 13 thế kỷ phát triển)</p>
<p>nhưng sau đó tách khỏi Phật giáo phát triển mạnh mẽ hơn quá khứ.</p>
<p>Toàn dân tộc đời sống tâm linh xoay xung quanh tín ngưỡng này.</p>
<p>Chính thức có hơn 100 triệu dân nhật bản theo thần đạo 4 triệu Vu Nữ chuyên múa phục vụ Thần đạo, luyện bán những bùa chú trừ tà hay giải hạn. với rất nhiều người chuyên tổ chức lễ lễ hội hay cúng tế.</p>
<p>Từ Vua, Thủ tướng đến thường dân đều tôn phụng.</p>
<p>Sự khác nhau giữa hai đạo là vũ nữ thầy tế và ông bà đồng, còn các câu tế và văn luật còn có phần kém cả sự phong phú và tính đa dạng, tính anh hùng hay sự nhân văn, lòng bao dung sự, phù trì.....</p>
<p>Trong hát văn của Đình Thần Việt.</p>
<p>Nhưng Thần đạo Nhật Bản lại hơn hát văn Việt bởi được công nhận là luật tục truyền thống buộc phải chấp hành.</p>
<p>Những việc phạm phải lỗi nhỏ phải biết nhận ngay kẻ nào không biết nhận lỗi lầm là kẻ đi ngược lại với Thần Đức tính cách của tiền nhân.</p>
<p>Còn như cực đoan một chút, nếu gây trọng tội hay thất bại, hoặc lỗi lầm không có thể cứu vãn là kẻ không học và làm theo noi gương chư Thần... sự anh hùng và xả thân vì nước... và có thể chết vong hồn sẽ không được chư Thần chấp nhận cho được nhập Thần xã của dân tộc Nhật Bản.</p>
<p>Trừ khi lấy cái chết để tạ tội.</p>
<p>Nhìn họ được thế giới công nhận bởi cái truyền thống chứ không phải là các điệu múa hay lễ hội và.....hình thức, nhìn đến đạo ta mà đau lòng.</p>
<p>Đạo Mẫu. Cửa Đình Thần Việt Nam ta được thế giới công nhận và nhìn nhận biết đến không hơn gì là văn hóa diễn xướng ca múa (Không dám dùng câu biểu diễn giải trí) vì sợ khinh nhờn Thánh nhân!!!</p>
<p>ps: Hầu đồng chính là giải nghiệp của gia tiên dòng họ nhà mình, điều này có lẽ bạn chưa tin, tuy nhiên nếu bạn thực sự hiểu và trải qua thì bạn sẽ hiểu tầm quan trọng của việc hầu đồng với phần âm của gia tiên dòng họ nhà bạn.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tại sao cần chọn Thầy có Phúc khi ra trình đồng mở phủ</title>
<link>https://tuvidonga.com/chon-thay-khi-trinh-dong</link>
<guid>https://tuvidonga.com/chon-thay-khi-trinh-dong</guid>
<description><![CDATA[ Mỗi chúng ta sinh ra vốn không chọn được cha mẹ, gia thế, nơi mình sinh ra hay dòng họ gia tiên. Kể từ khi đến với cuộc đời này, về với cha mẹ gia đình dòng tộc nào ta sẽ mang theo phúc nghiệp của bản thân gắn liền với phúc nghiệp phận ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_6647726ddf1a4.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:03:46 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>chọn thầy, trình đồng mở phủ</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Mỗi chúng ta sinh ra vốn không chọn được cha mẹ, gia thế, nơi mình sinh ra hay dòng họ gia tiên. Kể từ khi đến với cuộc đời này, về với cha mẹ gia đình dòng tộc nào ta sẽ mang theo phúc nghiệp của bản thân gắn liền với phúc nghiệp phận , vận khí của cha mẹ gia tiên dòng họ đó. Ảnh hưởng lớn nhất và nhìn thấy rõ nhất chính là vận khí của đấng sinh thành ra mình.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6647726dbf2ba.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="693" height="390"></p>
<p>Bởi thế, có những người sinh ra đã được vận khí rất tốt, người ta hay gọi là “ngậm thìa vàng” hay “sinh ra đã ở vạch đích”… ý chỉ người này sinh ra ở gia đình rất có phúc, có tiền tài, địa vị, … rất nhiều thứ mà người thường chỉ dám mơ ước.</p>
<p>Đương nhiên, số này rất ít.</p>
<p>Có rất nhiều người không được “may mắn” như vậy. Họ sinh ra ở những gia đình bình thường, hoặc dưới cả mức bình thường thậm chí khó khăn đói kém… ở tầng “thấp” của xã hội.</p>
<p>Nhưng dù được sinh ra tại gia đình, có cha mẹ như thế nào thì như đã nói số kiếp vận khí của ta kiếp này ảnh hưởng rất lớn từ phúc nghiệp vận khí của cha mẹ, gia đình, gia tiên dòng họ mình. Cái đó ta không thể chọn và không thể thay đổi được.</p>
<p>Vận khí cha mẹ, gia đình gia tiên kém, vận khí chúng ta cũng kém. Vận khí cha mẹ gia tiên gia đình tốt thì vận khí chúng ta cũng nương vào đó mà tốt đẹp thuận lợi.</p>
<p>VD: Anh sinh ra trong gia đình quan chức, cán bộ cao cấp, … khác với anh sinh ra trong gia đình nông dân, Anh sinh ra trong gia đình giàu có đủ đầy sống như công tử thiên kim tiểu thư khác với sinh ra trong gia đình bần cùng kiếm sống từng bữa…</p>
<p>Anh sinh ra trong gia đình truyền thống làm nghề đồng, nghề may, nghề thủ công hay ngành nghề nào khác, vừa sinh ra anh đã được hưởng khí vận của gia đình đó, anh có sẵn cơ ngơi và nghề truyền thống ông cha để lại, khác với những người sinh ra nơi đầu đường không nghề nghiệp, không có điều kiện học hành hay bất cứ nghề nghiệp gì…</p>
<p>Anh vốn sinh ra trong gia đình có tiền có của nhưng khi vận khí cha mẹ đi xuống, làm ăn kém phá sản hay quan chức bị mất chức, tù tội… vận khí tốt kia mất đi anh cũng chẳng còn được sung sướng nữa, thậm chí còn trở nên cùng cực bi đát không ngóc được đầu dậy.</p>
<p>Chỉ có biết cố gắng phấn đấu. tương lai cải được đến đâu tốt đến đó nhưng cả vạn người mới có người cải được một phần vận khí của bản thân vượt lên vận khí của gia đình dòng họ mình sinh ra.</p>
<p>Đó là người bình thường.</p>
<p>Người có căn số lại có sự khác biệt và khác biệt rất lớn. Bởi họ dù sinh ra ở gia đình vận khí tốt hay xấu thì đều là “nghịch mệnh”.</p>
<p>“Nghịch mệnh” ở đây là gì?</p>
<p>Người có căn số vượt qua luân hồi đầu thai vào gia đình nào không đơn giản ở mức chịu sự ảnh hưởng của phúc nghiệp gia đình gia tiên dòng họ đó mà họ phải GÁNH phần lớn, họ bởi “căn số” 99% là có năng lượng đặc biệt và khả năng tiếp nhận năng lượng đặc biệt khác người thường, là những người có căn duyên với cửa Thánh Thần hoặc có những kiếp đã tu tập, hoặc bởi “số hệ thiên cung”…  Họ trở thành “tấm vé số độc đắc” để tất cả oan gia nhiều đời nhiều kiếp của cả dòng họ đó bám víu cùng xô vào để đòi nợ. Tức là nếu đòi nợ con cháu bình thường chỉ được 1,2 phần thì với những người có căn số khả năng đòi nợ của oan gia lên đến 7-8 phần và nếu may mắn người đó ra trình đồng thì có khi còn được hưởng cả ân duyên năng lượng bóng Thánh ban cho đồng nhân (oan gia lấy đi một phần coi như đòi nợ).</p>
<p>Bởi thế, nếu may mắn được sinh tại gia đình vận khí tốt, họ (người căn số) có thể nương vận khí đó lên như diều gặp gió và át đi cái nghịch mệnh này dần dần (nên nhớ không phải họ là vận xui của gia đình mà họ gánh nợ oan gia cho gia đình dòng họ đó). Nhưng khi vận khí của gia đình gia tiên đó kém, đi xuống thì một loạt oan gia nghiệp quả vào xâu xé họ khiến cho vận khí của họ còn xấu hơn nữa, có thể kém nhất trong dòng họ và gần như không thể thể xoay chuyển.</p>
<p>Lúc đó họ chỉ còn một cứu cánh duy nhất, điều mà chỉ người có căn số mới có.</p>
<p>Đó là đổi vận cải số bằng cách ra trình đồng mở phủ thường được ví như: “sinh ra lần thứ 2”</p>
<p>Khác với sinh ra lần đầu không có sự lựa chọn thì lần này ta được CHỌN:</p>
<p>- Thứ nhất là chọn người sinh ra ta lần thứ 2: Chính là Nhà Thánh cửa Đình Thần</p>
<p>- Thứ hai là chọn người dẫn ta qua “cửa âm dương của đạo” lần nữa và được sinh ra làm con cửa Thánh. Đó là đồng thầy trình đồng mở phủ cho mình. Theo nghi lễ trình đồng thì người thầy trong canh hầu thay mặt chư Thánh “đẻ đồng” nhận “Thánh tử” và thường hay được gọi yêu thương là “mẹ đồng”.</p>
<p>Nói về khí vận và phúc vận không một ai có phúc lớn bằng được Nhà Thánh, không một ai có vận tốt bằng nhà Thánh địa vị bằng nhà Thánh… Được làm “Thánh tử” không gì cao quý, tốt phúc bằng. Nương vào vận khí tốt đó của “cha mẹ” mình và xoay chuyển vận khí cuộc đời mình, có thể át đi vận khí kém (của bản thân gia tiên dòng họ sinh ra lần đầu…) đang kéo mình xuống.</p>
<p>Nhưng làm sao để có thể trở thành “Thánh tử”, làm sao để ra trình đồng mở phủ thành công?  Trong cái lần tái sinh lần thứ 2 này phải dựa vào PHÚC của người đồng thầy!!!</p>
<p>Khi làm nghi lễ mở phủ cho con nhang, người đồng thầy có đạo lấy phúc của chính ông thầy, lấy quyền phép được nhà Thánh ban cho (lệnh khai hồ mở phủ) để dẫn trình thành công tạo liên kết tâm linh giữa người căn số và chư Thánh đình Thần, khi tạo được sợi dây kết nối này, người căn số trở thành con cửa Thánh được xin (nương) vận khí nhà Thánh trong hiện kiếp.</p>
<p>Khí vận lộc tài, địa vị, công danh, quan trường, sự kính nể của đời người… không ai cao hơn được Nhà Thánh.</p>
<p>Nhà Thánh, những vị được thờ trên ban, biết bao nhiêu vị sinh thời là tướng anh hùng, là công chúa, hoàng tử, vương gia… sự  tôn quý, vương giả … nào ai sánh? Con đồng Nhà Thánh chính là được hưởng hồng ân Chư Thánh để xin nương vào vận khí tốt này mà xoay chuyển vận mệnh.</p>
<p>Bởi thế, có nhiều người trước khi mở phủ vận số rất kém nhưng sau khi trình đồng thành công nhờ nương vào vận khí Nhà Thánh mà vận khá lên, làm ăn, công việc, quan trường đều thăng tiến nhanh chóng hoặc ít nhất cuộc sống cũng tốt đẹp hơn nhiều mặt. Đặc biệt người tu tập có đạo hạnh thì vận khí tốt còn ảnh hưởng lại cho cả con cháu và gia tiên dòng họ nữa.</p>
<p>VD: ngành mây tre đan với nghề thủ công truyền nghề trước thì đủ ăn, sau đến giai đoạn xuất khẩu được tốt thì vận lên, giờ không xuất khẩu được nhiều lại kém… như vậy vận khí của người sinh ra trong gia đình truyền thống làm nghề mây tre đan và tiếp nối nghề cũng bị ảnh hưởng. Trở nên khó kiếm sống thậm chí bờ vực phá sản, đóng cửa nghề truyền thống.</p>
<p>Mình có căn số ra đồng xin lấy khí vận nhà Thánh xin xoay chuyển ngược lại…, ví dụ như làm măt hàng truyền thống nhưng thay đổi mẫu mã, tìm kiếm đối tác mới, đầu ra mới… công việc làm đâu được đó.</p>
<p>Người con quan chức không may người cha bị vận hạn kẻ xấu hãm hại, cả gia đình đi xuống khó có cơ hồi chuyển, người này có căn cao số nặng ra trình đồng thành công, xin nương quan vận cửa Nhà Thánh được người thương người giúp, kẻ nâng người đỡ vẫn có thể thăng tiến và có chức vị cao trên quan trường.</p>
<p>Người con dân thường thậm chí gia cảnh nghèo khó khổ cực, làm ăn thất bát… lụi bại. Nay xuất thủ trình đồng thành công làm con cửa Thánh cũng được xin nương vận khí cửa Thánh mà xoay vận bản thân dần dần tốt hơn, công việc thuận lợi từ đó mà có lộc có tài… hoặc khá hơn dần dần nhiều mặt trong cuộc sống.</p>
<p>Nhưng đó là nếu xuất thủ trình đồng thành công, mở thông được 4 phủ và nhà Thánh nhận đồng. Để làm được vậy người đồng thầy trước phải có năng lực, sau có lệnh khai hồ Nhà Thánh ban và cần thiết nhất đó là ông đồng phải có PHÚC.</p>
<p>Người đồng thầy có phúc thì mới sẻ phúc được cho con nhang đệ tử, dẫn trình thông tứ phủ và từ đó kêu tấu được với chư Thánh xin được vận khí từ Chư Thánh cho con nhang mình.</p>
<p>Ngược lại, có nhiều người được sinh ra lần thứ 2 còn kém hơn ban đầu và ngày càng suy sụp, tán gia bại sản, cơ hành, thậm chí gia tiên dòng họ cũng ngày càng lụi bại… bởi chọn phải ông đồng mạt phúc (mở phủ không thành công, đồng thầy bòn ngược lại phúc của đệ tử…).</p>
<p>Thử hỏi: Ông thầy đang mạt phúc kém vận mà mở phủ cho mình thì mấy lấy đâu ra vận tốt, lấy đâu ra phúc phần?</p>
<p>Nếu mình đang có phước vận thì ông thầy kém phúc bào luôn phước của con nhang (mở không thành công – Không xin được khí vận từ Nhà Thánh), ra đồng mà hỏng đồng dẫn trình không thành rất hay vỡ nợ, bế tắc … là vì vậy.</p>
<p>Các cụ hay nói rằng: Con người ta sinh ra không có sự lựa chọn nhưng người căn số có thể được sinh ra lần thứ hai và lần này họ chọn được, và nhất thiết phải chọn người thầy có phúc là vì vậy.</p>
<p>Một người thầy đồng theo quan niệm xưa kia của các cụ quan niệm là người thầy phải có đạo đức, đã lập và có gia đình vợ con đàng hoàng , có nếp có tẻ là tốt nhất, con cái thậm chí thành đạt, không cờ bạc rượu chè bê tha chơi bời đàng điếm tù tội lừa đảo hủ hóa... mới sang khăn nối quả tạo phúc được cho con nhang.</p>
<p>Người không con không cái mà đi mở phủ cho người thì là kẻ cô độc, con mình không có (cây khô không lộc người độc không con) tất không để phúc lộc lại cho ai, hoặc có con nhưng con đẻ không chăm không lo song lại lo được cho con người ta thì không có chuyện đó.</p>
<p>Tìm thầy đạo ta các con cần có nhân duyên, nhưng cũng cần có sự xuy xét thật kỹ từ chính bản thân mình.</p>
<p>Hãy tìm người có nhà cửa, gia thế, có tài đức, con cái đàng hoàng… thì người ra trình đồng sẽ có nhà cửa, gia thế, tài đức, con cái… Thầy có phúc mới trộn phúc, sang phúc được cho con nhang.</p>
<p>Những lần có sự việc bản thân, gia chung gia tiên con đồng cần sự kêu cầu tấu đối, chỉ có ông thầy có đức có tài và đặc biệt phải có phúc mới kêu thấu tấu nổi được cho con nhang. Bởi rằng tuy đã dẫn trình thành công ra với cửa Thánh nhưng con đồng con sơ cơ non nớt, vận khí ban đầu còn kém hoặc đang đà xuống. Phải người thầy có phúc khí mới xin tấu được với chư Thánh gia hộ cải vận được cho con nhang đệ tử.</p>
<p>Những người đồng nhân ra hành đạo, hành pháp sơ cơ mới bước vào luyện lính nhà Thánh cũng phải nương vào đồng thầy vừa có tài có đức nhưng phải rất có phúc mới có thể làm việc được đúng đường đúng lối, mới có người cậy người sở. Đó cũng là nương vào phúc và vận của ông thầy mà ra…</p>
<p>Nhưng nếu ông đồng không có phúc thì mở phủ cho là bòn chính phúc của con nhang, gia tiên dòng họ con nhang… và đương nhiên không thể mở phủ dẫn trình thành công được. Có chăng con nhang đệ tử có khá lên nhất thời là một thời gian là lại đâu vào đó thậm chí mạt phúc cả đôi bên.</p>
<p>Thầy đồng theo lệnh nhà Thánh dẫn trình đệ tử là có lệnh khai hồ mở phủ, người đó để lại phúc cho đồng con và song song với đó cũng tích được phúc thêm, bởi “đông con nhiều cháu” là “thêm người thêm phúc” vậy. Có thêm con thêm cháu là thêm phúc thêm vui cửa vui nhà. Người căn số từ khi được thầy dẫn trình đồng thành công là con nhang cái bán cửa điện thầy, như con cái người thân thiết trong nhà.</p>
<p>Với đạo Thánh ta:</p>
<p>Nguyên tắc đồng quan, đồng thầy chân chính mở phủ không bao giờ lấy tiền của con nhang khi trình đồng mở phủ, lấy tiền mở phủ cho con nhang thành “đẻ thuê” cho người trần à?</p>
<p>Nhưng rất nhiều đồng thầy tâm đức đặc biệt là đồng quan không hề nghèo dù họ không lấy tiền mở phủ cho con nhang. Nhưng con nhang đệ tử của họ được ơn phúc thầy, ơn phúc vận chư Thánh… ăn nên làm ra, tốt tươi lên, thăng tiến lên đặc biệt là có chức có vị… tỏ lòng thành kính, báo hiếu với thầy đồng là chuyện bình thường.</p>
<p>Người thầy dẫn trình thành công cho đệ tử thường vô cùng có phúc có tài, mở phủ dạy đạo cho con nhang đệ tử cũng có tài đức, có phúc có vận… thì bách gia cũng biết đến mà nương nhờ, âm phần tin tưởng luôn dẫn duyên người cậy sở...</p>
<p>Nhắc nhở thêm rằng:</p>
<p>+ Trước kia những người không con cái, gia đình không đủ đầy vợ chồng… bị coi là thiếu phúc và gần như không thể mở phủ cho người. Nay thì cởi mở hơn. Những người có tâm đức, có phúc phần …đủ lớn vẫn có thể mở được cho người nhưng rất hiếm.</p>
<p>+ Ngày nay các idol tiktok, facebook ra đồng bản thân có khi còn chưa được thông đã đi trình đồng cho người, có kẻ con đang cơ hành khốn đốn ảo loạn đã rao giảng ầm ĩ về đạo… Nếu người căn số đặc biệt là những người đang vận khí kém, phúc mỏng nghiệp dày không thực sự tỉnh táo mà theo những kẻ “thầy dởm” này thì mạt phúc mạt vận sớm. Chỉ khi gặp được đúng thầy thật sự dẫn trình thành công và phải rất có phúc mới may ra xin tấu được với chư Thánh đảo được vận, xoay chuyển được mệnh khổ long đong.</p>
<p>+ Nói ra trình đồng mở phủ được làm con cửa Thánh là được “sinh ra lần thứ 2”, được nương nhờ hồng ân Chư Thánh bởi sợi dây liên kết tâm linh nhưng kiếp này ta vẫn là con của cha mẹ đẻ ta. Vẫn là con cháu của gia tiên dòng họ ta. Con người có tổ có tông. Chớ có thấy sang mà quên nghĩa quên nguồn cội. Hiếu đạo với cha mẹ, gia đình gia tiên dòng họ không được phép quên.</p>
<p>+ Người đã ra trình đồng mở phủ thành công, nhờ phúc ông Thầy mà được nương tựa cửa Đình Thần, có thể được xin nương vận khí cửa Thánh xoay vần vận khí cuộc sống tốt hơn rất nhanh hoặc dần dần. Nhưng đã ra đạo cúi đầu làm tôi con cửa Thánh là phải tu.</p>
<p> Giống như con cái nhà Quan chức, con nhà tài phiệt… sinh ra đã có phúc nhưng nếu không biết rèn luyện, biết giữ và phát huy và tiếp tục cái phúc cái vận khí tốt của mình thì phúc vận cũng đến lúc mạt. Những “công tử Bạc Liêu” chính là ví dụ điển hình cho việc đó.</p>
<p>Chớ để quá mạt phúc mạt vận, vận khí quá kém mới nghĩ đến việc xin ra trình đồng mở phủ về với cửa Thánh hoặc nghĩ cửa Thánh như nơi cứu cánh đổi vận bất chấp. Nhà Thánh gia ân cho con đồng cửa Thánh và san phúc khí phúc vận cho đồng nhân. Nhưng cũng phải xét đến người “con” đó duyên đến đâu, gia tiên nhà đó nghiệp dày thế nào…? Nếu gia tiên dòng họ đó nhiều đời làm quan mà hại nước hại dân, gia đình đó làm ác hại thế nhân… thì nghiệp đổ đầu đồng nhân quá lớn. Phúc khí nhà Thánh và vận khí xoay vần chỉ giúp vượt qua nghịch cảnh nhất thời. Phải nhờ vào nỗ lực tu tập của đồng nhân, nương nhờ Thánh đức, nương đạo Thánh để hành đạo tạo phúc lại cho bách gia để bù đắp trả nghiệp dần dần mới có thể xoay đổi vận khí.</p>
<p>Nhớ rằng: Về với cửa đạo Thánh là phải tu phải tập, nếu có nghiệp đạo phải hành đạo Thánh cứu nhân độ thế phát dương Thánh đạo tạo phúc bách gia, lấy danh cho Thánh lấy diện cho đồng… thì phúc vận bản thân, gia đình, con cái, dòng họ mới tốt đẹp lâu dài.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Lộc âm là gì, từ đâu mà có?</title>
<link>https://tuvidonga.com/loc-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/loc-am</guid>
<description><![CDATA[ Đó là những câu ta thường hay nghe nói khi thấy sự may mắn, thuận lợi “khác biệt” của một người hay một gia đình dòng họ nào đó trong cùng một điều kiện, môi trường sinh hoạt và làm việc. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_664774693fb6a.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:03:02 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>tìm hiểu về lộc âm</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>“Nhà này buôn bán có lộc”, “Nhà này được các cụ cho lộc”, “đất này có lộc”….</p>
<p>Đó là những câu ta thường hay nghe nói khi thấy sự may mắn, thuận lợi “khác biệt” của một người hay một gia đình dòng họ nào đó trong cùng một điều kiện, môi trường sinh hoạt và làm việc.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_750x_6647746925bc1.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="725" height="544"></p>
<p>Chả phải hiếm khi cùng một con phố nhà nào cũng bán một mặt hàng, không thiếu chủ cửa hàng sởi lởi, không thiếu người khéo ăn khéo nói thậm chí hàng bán còn rẻ nhưng khách cứ thích mua ở cửa hàng đó, của người đó bán cơ. Và thế là cả một dãy phố chỉ có cửa hàng đó khách đông nườm nượp, hàng bán không kịp, có khi chủ cửa hàng còn cáu ghắt thậm chí đuổi khách chửi người như gì mà người ta vẫn lao vào mua. Kỳ lạ không? Ngoài cái duyên buôn bán có có cái gọi là lộc âm.</p>
<p>Lại có những người không phải là người quá quảng giao ăn nói, hay nhiều mưu mẹo tính toán nọ kia, chẳng phải con ông cháu cha, có khi còn hơi chân chất và có chút ngô nghê, nhưng lại hay gặp may, làm gì được đó, trong cơ quan hay được nâng đỡ, sự nghiệp công danh vị trí công việc lên vù vù một cách bất ngờ.</p>
<p>Trong một cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp… dù người làm chăm chỉ, nghiệp vụ tốt có hàng trăm, hàng nghìn người…nhưng có người làm mãi chả tiến được, người lại cứ thuận đà mà tiến. Công danh sự nghiệp cứ vậy mà phát triển. Người nâng người đỡ, người giúp người quý… một cách rất tự nhiên theo kiểu “nhìn đã thấy muốn giúp”. Kỳ lạ không?</p>
<p>Trăm người bán phong thủy, bán linh phù… có khi còn livestream khản cả giọng ngày 4-5 ca, mỗi ca 2-3 tiếng đến quên ăn quên ngủ, cũng là cô đồng cậu đồng, cũng có điện đài, thậm chí có cửa hàng to là đằng khác… Nhưng vẫn ế. Vậy mà cô kia chả cửa hàng cửa hiệu, chỉ sinh sau đẻ muộn, chả bói chả toán, cứ vài bài đăng tin bán hàng phong thủy, 2-3 tháng mới livestream nói chuyện vài câu, vậy mà người mua ầm ầm không ngớt, đăng bán 100 có 1000 người chen vào xin mua. Đắt cũng mua, chờ lâu cũng mua, thậm chí tiền trước chứ chả phải thu COD như nhiều người bán hàng online hiện nay. Thế có kỳ không?</p>
<p>Anh xem bói, tôi cũng xem bói, anh có năng lực gọi hồn, kêu cầu, anh cúng lễ tôi cũng cúng lễ, mà còn cúng “kỹ” là đằng khác, anh có giao cảm phần âm, giao thiệp được với phần âm thậm chí với cửa Thánh… tôi cũng có mà có khi năng lực còn cao hơn anh, làm việc phụng sự nhiều năm hơn anh, đền điện của tôi rộng lớn hơn, nguy nga hơn… thậm chí còn PR các kiểu trên mạng… Điện nhà anh ngõ sâu cùng hẻm, anh chả nói với ai anh xem bói gọi hồn…, mỗi người anh xem chỉ nói 1-2 câu sơ sơ, có khi khái tính còn xem người nọ không xem người kia… vậy mà người ta cứ kéo đến anh để xem, người nọ nối gót người kia… làm việc suốt ngày không hết, đuổi bớt người đến cậy sở còn chả đi.  Sao lại bất công vậy? Sao lại kỳ lạ như vậy.</p>
<p>Chẳng có gì là lạ, chẳng có gì là bất công cả.</p>
<p>Duy nhân tự triệu, tất cả đều là tự bản thân mà ra.</p>
<p>Những người như trên hay được gọi là được “lộc”. Ngoài lí do năng lực, trí tuệ, thiên thời địa lợi hay những thuận lợi cơ sở mà ai cũng nhìn thấy đó. Thì có cái mà người đời chẳng nhìn thấy. Đó là họ có lộc âm. Và cái này mới là cái khiến chúng ta có ganh tỵ, có so đo thì vẫn chẳng thể cố cầu kéo cho bằng họ được. Bởi duyên, bởi nghiệp từ chính bản thân mà họ có “lộc âm” đó. Bạn có duyên, có nghiệp đó không? Hãy thử điểm kê những yếu tố dưới đây xem.</p>
<p>Lộc âm từ đâu mà có:</p>
<h2>Với người bình thường</h2>
<ol>
<li><strong>Từ gia tiên</strong></li>
</ol>
<p>- Gia tiên có phúc con cháu có phần.</p>
<p>Gia tiên nhiều đời nhiều kiếp có phúc, trong hội đồng gia tiên có người mang năng lực tâm linh mạnh mẽ. Nhờ đó mà con cháu được cậy được nhờ. Gia tiên phù hộ cho con cháu làm ăn thuận lợi, được công được danh… hơn người.</p>
<ol start="2">
<li><strong>Từ Vong tiền chủ/ Vong nhân duyên</strong></li>
</ol>
<p>- Đất nào mà chả có vong. Mấy ngàn năm bao đời thế hệ chiến tranh rồi thời bình định cư nơi nào ko có người chết , Đã là đất ở thì đâu chả có thổ công thổ địa, tiền chủ (thần tài chính là đây chứ chẳng phải ông nọ ông kia từ đâu thỉnh tới) ( vậy lên từ xưa đến nay khoa phạm sớ sách người việt đều ghi cốt ngũ phương long mạch tiền chủ hậu chủ tiếp dẫn tài thần ( thần tiền chủ 1 trong 5 vị gia thần). Quan trọng là họ có quý mình hay không? Có muốn giúp mình giàu có thuận lợi mạnh khỏe hay không?</p>
<p>Ừ thì nếu quý thì làm gì cũng muốn giúp muốn nâng, nói gì cũng thấy dễ nghe. Có khi chẳng cần nén hương bát nước vẫn giúp vẫn đỡ. Chứ chẳng nói đến cầu cúng hoa quả mâm lễ xa hoa. Thế mà lại còn nhất tâm kêu cầu, hương hoa quả thực nữa thì khỏi phải bàn cãi, lộc xa lộc gần đều kéo về cho cả.</p>
<p>Âý thế mà đã ghét thì: Nó thở thôi mình cũng ghét.</p>
<p>Không làm ăn được gì trên cái đất ấy, rồi thì phá cho đau ốm liên miên, ngủ không được mà ăn cũng chả xong, rồi học hành thi cử, công danh lận đận, rồi thì tai nạn, rồi thì bồn chồn lo lắng liên miên. Cốt làm sao để cái đứa mình không ưa ấy nó đi chỗ khác mà sống mà ở mà làm. Khi nào gặp được cái đứa mình quý nó đến thì sẽ “đổi tính” ngay.</p>
<p>Bố mẹ còn đối xử với con cái đưa thì nhưu cục vàng đứa như cục đất, đứa yêu quý đứa chưa thấy mặt đã loa phường.</p>
<p>Thế nên đừng hỏi tại sao mà vẫn cái sản phẩm đó, giá đó, lúc mình bán thì ế chỏng ế chơ mà khi người ta đến thuê laị căn nhà đó cũng bán mặt hàng đó  khách lại đến mua ầm ầm. Phải hỏi xem vong trên đất đó có ưa bạn hay không. Cái này thì bạn khó mà so đo cho bằng người ta rồi. Thôi thì tìm đến mảnh đất mà hợp duyên với mình, rồi khéo kêu cầu cúng bái cho tiền chủ quý mình giúp mình mà làm ăn.</p>
<p>- Hai nữa là vong nhân duyên.</p>
<p>Duyên cũng có ba bảy loại duyên, duyên tốt duyên xấu, duyên thuận duyên nghịch. Lẽ đương nhiên các vong nhân duyên sẽ đi theo bạn dù bạn ở đâu và làm gì cho đến khi hết duyên hoặc khi chán thì thôi.</p>
<p>Nếu là thuận duyên, duyên tốt người ta sẽ thương sẽ quý bạn, sẽ giúp bạn đủ đường dù bạn chẳng biết đến họ, có khi còn dùng năng lực bảo vệ bạn khỏi đủ thứ ma tà hoặc kẻ xấu làm hại mà không cần một lời cảm ơn.</p>
<p>Nhưng nếu là duyên xấu, vong oan gia đòi nợ…hoặc tiền chủ chúa đất đã ghét  thì sự đeo bám vô cùng dai dẳng và bạn sẽ gặp vô số những xui xẻo hoặc những lận đận vô cùng “hơn người”.</p>
<ol start="3">
<li><strong>Từ Nhà Thánh</strong></li>
</ol>
<p>Nhà Thánh mà đã thương ai thì lộc không để đâu cho hết. Đặc biệt là con đường công danh, sự nghiệp, con cái… đủ cả. Nhưng lộc này không tự nhiên mà có giống như lộc gia tiên, lộc vong nhân duyên.</p>
<p>Bởi lộc Thánh chỉ dành cho người hữu tín, hữu tâm.</p>
<p>Tức là phải có niềm tin vào chư Thánh Thần, kêu cầu và tin tưởng chư Thánh gia hộ thì mới nhận được sự gia hộ đó. Nhất tâm kêu cầu, nhất tâm tin tưởng, nhất tâm kính lễ, đặc biệt nhà đó phải có Âm phúc và nhân duyên … mới có được lộc Thánh ban cho.</p>
<ol start="4">
<li><strong>Từ ma tà ám tá</strong></li>
</ol>
<p>- Đừng nói ma tà không cho ai lộc âm. Có đấy. Nhưng quan trọng là luôn có mục đích và là mục đích xấu.</p>
<p>Cho 1 thì lấy lại 10 thậm chí 100 và cái cho thì dễ thấy chứ cái lấy lại thì chả mấy ai thấy cả.</p>
<p>Lộc tài cho, công danh cho… nhưng lấy lại phúc phần nhiều năm về sau, lấy khí huyết, thậm chí nhiều vong tà còn trộm tín ngưỡng lực từ ban thờ trong nhà của người mà nó ám tá. Khi đã chiếm được tín ngưỡng này thì gia tiên, vong chủ đất hay vong hữu duyên chả còn chỗ mà đi theo hay giúp người bị ám tá nữa.</p>
<p>Đến khi đã lấy đủ phúc phần, lấy đủ tín ngưỡng gia trì nó sẽ bỏ lại người bị ám bơ vơ và bắt đầu đổ nghiệp. Khi đó thì bệnh tật, xui xẻo thi nhau kéo đến khiến người bị ám không kịp trở tay.</p>
<p>Vong gia tiên hay hữu duyên lúc này muốn giúp phải đánh đổi rất nhiều và quan trọng là có đủ lực để giúp hay không mà thôi.</p>
<p>Lộc vong tà oan gia dễ được nhưng cũng nhanh tán.</p>
<p>Đó là đối với người bình thường nói chung. Lộc âm có thể đến từ 4 nguồn trên.</p>
<h2>Với người có căn số</h2>
<p>Với người có căn số chưa hoặc đã ra đồng họ cũng có lộc âm từ 4 nguồn trên. Nhưng đặc điểm có chút khác biệt. Cụ thể:</p>
<ol>
<li><strong>Về lộc tài, công danh:</strong> Gia tiên có thể kêu tấu các cung các cửa Chư Thánh để gộp phúc nhiều năm của gia tiên và của cả con cháu để giúp con cháu được lộc tài lớn trong thời gian ngắn để giúp vượt qua khó khăn hay để có thể làm được việc lớn khi cần thiết. (Việc này chỉ gia tiên có năng lực và cậy sở cửa Thánh mới có thể làm được).</li>
<li><strong>Năng lực dị năng:</strong> Đó là khả năng ngoại cảm (cảm âm), soi bói gọi gồn, gọi dí, chữa bệnh, kêu cầu…</li>
</ol>
<p>Nhưng dị năng này ở các cấp độ và mục đích khác nhau:</p>
<p>+ Chư Thánh ban cho năng lực dị năng để làm việc và cũng là thử thách. Chỉ ban cho con đồng nhà Thánh, thường có hành sai hoặc phân bổ gia tiên theo giúp việc để rèn luyện sử dụng dị năng đúng cách. Dị năng này được ban theo căn cơ, tính chất công việc và thường là năng lượng dị năng bậc cao.</p>
<p>+ Gia tiên ban năng lực dị năng để nhận biết mình có căn số hoặc để làm việc Thánh hoặc để thực hành làm việc. Thường là năng lực dị năng bậc thấp và có thể ban cho con cháu từ khi chưa ra đồng và sau khi ra đồng, lúc cần thúc giục con cháu làm việc Thánh và cả khi đang hành pháp sự. Và đã là năng lực gia tiên ban cho, lại là dị năng bậc thấp nên khi hành pháp có thiếu sót lỗi lầm gì gia tiên phải đỡ hộ, phải chịu trách nhiệm thậm chí hót rác cho con cháu nếu chúng cố tình hay vô tình làm sai.</p>
<p>+ Vong nhân duyên/ Vong đất cũng có thể ban cho người có căn số/đồng nhân năng lực dị năng (bậc thấp). Tùy theo năng lực và mục đích của vong hữu duyên mà năng lực này bền hay không, dùng tốt hay xấu.</p>
<p>Nhiều trường hợp vong oan gia cho người năng lực dị năng soi bói gọi hồn cảm âm để người đó dần dần biết mình có căn ra trình đồng mở phủ từ đó trả nợ cho họ. Sau khi lấy hết nợ họ sẽ rời đi.</p>
<p>Nhiều vong hữu duyên giúp người căn số có năng lực dị năng để làm việc âm hoặc có ngân có xuyến để ra trình đồng mở phủ… đến lúc nào đó năng lực vong yếu đi thì dị năng họ ban cho cũng yếu và dần biến mất.</p>
<p>- Nếu là vong duyên xấu hoặc ma tà cho người căn số dị năng: Chỉ có mục đích là ăn cắp tín ngưỡng lực và phá hoại đường tu của người có căn.</p>
<p>Đặc biệt là những người trước đây được ăn lộc dị năng từ gia tiên/vong hữu duyên khác hoặc thậm chí năng lực dị năng từ nhà Thánh mà vì một lí do nào đó năng lực này bị yếu đi, bị thu hồi.</p>
<p>Những vong xấu/ ma tà lợi dụng chính lúc này tiếp tục cho người căn số năng lực dị năng, tiếp tục kéo khách đến để gọi hồn, coi bói… và lấy đi tín ngưỡng lực gia trì từ người cậy sở, lấy đi phúc phần của con đồng cùng gia tiên dòng họ đó. Để lại cho nạn nhân cái bề ngoài mà nhiều người nhìn thấy đó là lộc tài, danh vọng, địa vị và NGHIỆP. Đến khi lấy đủ và con mồi cùng gia tiên dòng họ đó đã cạn phúc thì tự chúng sẽ rời đi. Nghiệp đổ, tự kẻ có căn/ con đồng ngu dốt ngạo mạn kia cùng gia tiên gánh chịu.</p>
<p>Nhưng không phải ai cũng bị như vậy. Chúng nhằm vào những người biết sai mà không sửa không hối cải, biết mình làm trái phép Thánh mà cứ đâm đầu làm, những kẻ ham danh ham quyền và ham vật chất mãi không thôi, những kẻ sợ thừa nhận mình đang tụt dốc, những kẻ sợ tu lại từ đầu, những người luôn vây quanh chữ “sợ thế gian” mà không còn sợ THÁNH …</p>
<p>Anh có cái để sợ mất và ma tà có cái để cho. Duy nhân tự triệu mà thôi.</p>
<p>Thường lộc căn đồng thì hồ đầy lại hết hồ vơi lại tràn nhưng nếu lỗi đồng lỗi bóng thì khổ không tả hết được.</p>
<ol start="3">
<li><strong>Nguồn lộc âm đặc biệt chỉ người căn số/con đồng mới có nhưng cũng không hiếm.</strong></li>
</ol>
<p>- Lộc từ binh/gia nô binh: Là những vong có thể trên đất, có thể của gia tiên nhiều đời có nuôi âm binh, có thể là binh loạn tứ xứ thấy người có căn số và đặc biệt là người có số tôn cấp lập thờ mà đi theo.</p>
<p>Những vong này cho lộc người căn số/con đồng không khác gì vong hữu duyên cả. Có thể là lộc tiền tài, buôn bán, lộc công danh thậm chí gia đạo con cái…</p>
<p>Điều khác duy nhất chính là mục đích.</p>
<p>- Binh/gia nô binh cho lộc người căn số/con đồng để người ta ra trình đồng mở phủ và phải lập tĩnh từ để nhận họ vào, phải nuôi binh, khao binh, phải sắp xếp lại binh và phải làm việc âm để gia trì tín ngưỡng cho họ tu tập.</p>
<p>Họ là những vong tu tập chứ không phải chỉ để ăn bám sống qua ngày. Họ có năng lực âm và có những vị khá mạnh. Họ có thể cho lộc và còn có thể đuổi những kẻ đối nghịch, ma tà ám tá khác tiếp cận người căn số.</p>
<p>Nên khi được những đối tượng này cho lộc, lộc đến rất nhanh, rất nhiều và hiếm khi bị vong ma “quèn” bắt nạt. Giống như bạn có đội ngũ quân đội hùng hậu bảo vệ.</p>
<p>Nhưng chớ quên khi đã được lộc từ họ thì sớm muộn cũng phải làm việc mà họ đang trông chờ: Lập tĩnh điện thờ âm binh và làm việc.</p>
<p>Nếu chỉ chăm chăm hưởng lộc mà quên việc phải làm kia thì nếu là binh nhà Thánh có thể cho qua chứ gia nô binh hoặc binh tứ xứ đang trông chờ (vì cuối cùng không có tĩnh từ, không ai quản lý) dễ quay đầu và phản lại. Lợi bất cập hại về lâu dài.</p>
<p>Đa phần những người đó tiền kiếp kết nghiệp với phần Âm quá lớn bao gồm cả nghiệp đạo (có kiếp tu tập đạo Phật Thánh nhưng sử dụng đạo thuật được học hành đạo hại người hại nhân…… gây lên nghiệp) khi luân hồi đầu thai lại phải chịu kiếp nghiệp chịu gia nô binh.</p>
<p>Lời kết:</p>
<p>Vậy đó, lộc âm ai cũng có và nó hiển hiện trong cuộc sống hằng ngày. Người thường có và người căn số lại càng có. Người thường bởi vô tri mà đôi khi có thể vô thưởng vô phạt mà nhận lộc âm.</p>
<p>Nhưng người căn số và đồng nhân, người có đạo phải hiểu rõ, lộc âm đó cho ta là từ ai, như thế nào, để làm gì và phải trả thế nào.</p>
<ul>
<li>Nhà Thánh và gia tiên là người thương ta nhất, bảo hộ dẫn tu cho ta, có thử thách đó, có rèn luyện và nghiêm khắc đó nhưng không bao giờ bỏ rơi ta.</li>
<li>Vong đất, vong hữu duyên, binh và gia nô binh cũng giúp ta nhưng ở mức nào và ta phải làm gì bù đắp, ta cũng phải biết.</li>
<li>Khó khăn nhất chính là lộc âm từ ma tà, nhận biết đã khó và thoát ra lại càng khó hơn. Cần sự tỉnh táo, cần có đạo tu và cả nỗ lực từ bản thân và người hộ đạo. Để không thấy người sang mà mình đòi sang, không thấy người đông khách đông người cậy sở mà ham, đừng thấy cái bề ngoài mà bỏ quên cái bản chất rồi trở thành tay sai, thành công cụ rồi cuối cùng thành nạn nhân của ma tà.</li>
</ul>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Nhà Thánh có hành, có phạt không</title>
<link>https://tuvidonga.com/thanh-hanh-thanh-phat</link>
<guid>https://tuvidonga.com/thanh-hanh-thanh-phat</guid>
<description><![CDATA[ Thưa thầy, gần đây con có nghe trên các diễn đàn Đạo Mẫu có luồng tư tưởng được 1 số nhà sư rao giảng rằng: nhà Thánh phạt căn, hành căn theo ý nghĩa phạt vạ, hành hạ… hoặc cơ để bắt ép người ta ra đồng hoặc hành hạ để cho họ khổ sở ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/05/image_380x226_664776d465873.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:02:25 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>Nhà Thánh có hành, có phạt không</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Thưa thầy, gần đây con có nghe trên các diễn đàn Đạo Mẫu có luồng tư tưởng được 1 số nhà sư rao giảng rằng: nhà Thánh phạt căn, hành căn theo ý nghĩa phạt vạ, hành hạ… hoặc cơ để bắt ép người ta ra đồng hoặc hành hạ để cho họ khổ sở ..... Thánh Thần Việt trong miệng của họ giảng rất giống tà ma. Họ nhấn mạnh về sự cơ hành và bắt đồng, làm xấu và sai lệch hình ảnh về Đạo Thánh thậm chí đả phá cả việc thờ cúng gia tiên. Chúng con mong được thầy chỉ dạy cho anh chị em bản hội cùng bách gia được thông tỏ.</p>
<p>Trả lời:</p>
<p>Thực tế bây giờ tu đạo và ngày xưa tu đạo có khác nhau đôi chút về hình thức nhưng bản chất thì phải hiểu rõ. Đã tu đạo Thánh phải biết Thánh có phạt, có hành …nhưng là phạt ai, phạt việc gì và như thế nào thì phải hiểu cho đúng, cho thấu đáo.</p>
<p>Thầy không giảng riêng về con đồng mà thầy sẽ giảng chung luôn tại sao nhà Thánh lại phat.</p>
<p>Bởi rằng con đồng phần nhiều là gia tiên phạt vạ để dậy bảo con cháu hoặc oan gia xin lệnh quỷ thần đeo bám phạt vạ. Còn nhà Thánh có phạt nhưng thường hay phạt những chuyện làm ảnh hưởng đến cộng đồng dân tộc và quốc gia.hay của truyền thống Đạo nhà, của Việt tộc.</p>
<p>Các con ở đây có nhiều người đều tu theo Phật và cả đạo Thánh, đều quy theo nhà Phật và tụng kinh Phật, lấy chủ yếu là tinh thần Phật môn và sự từ bi hỷ xả của nhà Phật làm định hướng hàng đầu khi tu Phật.</p>
<p>Thôi thầy giảng rộng ra và đơn giản chút nhé:</p>
<p>Các con có thấy: Những người theo đạo Hồi họ không công nhận vị Chúa, Phật… mà chỉ coi các vị ấy là triết gia hay nhà tiên tri, dù các vị Phật hay chúa....đó có nói đúng hay nói sai và nói gì đi chăng nữa thì vẫn không thể là đấng thiêng liêng chỉ là một con người không hơn không kém … Những người theo đạo Hồi  họ chỉ tin nhà tiên tri Mohamed mới là đấng thiêng liêng.</p>
<p>Hay người theo đạo Thiên Chúa họ cũng chả tin ông Phật… họ tin Chúa của họ, Chúa nói có trời là có trời, có đất là có đất…, chết họ về với đức Chúa.</p>
<p>Người theo đạo Phật cũng thế, Phật giảng về tam nghiệp nhân quả của con người trong luân hồi , nhấn mạnh về nghiệp báo nhân quả… thì người tín theo Phật họ tin, còn người theo đạo khác người ta đâu có tin (nhớ là tam nghiệp của con người trong luân hồi nhé chứ Phật chưa từng giảng tam nghiệp của súc sinh nhé).</p>
<p>Thầy nói vui chút đến giờ thầy tu phật nhiều năm, cũng chưa biết súc sinh ăn thịt sẽ đầu thai biến thành con gì đâu. Thầy vẫn băn khoăn khi lập luận chỗ này hỏi đến cả 1000 ông sư không ai trả lời được: người ăn hổ khi chết bị nghiệp phải đầu thai thành hổ ?.... Phật lại không giảng nghiệp của súc sinh kiếp sau vậy thầy cũng không biết liệu hổ ăn người khi chết có đầu thai thành người không???!!!).</p>
<p>Tương tự những người theo Ấn độ giáo, Thần đạo Nhật Bản, Đạo Lão… hay bất cứ tôn giáo tín ngưỡng nào khác… họ chỉ đặt niềm tin vào đạo của họ hoặc đấng tối cao của họ.</p>
<p>Và người theo Đạo Mẫu cũng vậy. Sự khác biệt chính là ở niềm tin.</p>
<p>Niềm tin sinh ra tôn giáo tín ngưỡng và tạo ra sự khác biệt tôn giáo tín ngưỡng với nhau, thế giới nhân sinh quan về tâm linh khác nhau.</p>
<p>Anh tin theo Phật, anh tin rằng kiếp này làm xấu tạo nghiệp kiếp sau phải chịu nghiệp, nhưng nhiều tôn giáo tín ngưỡng không tin vào kiếp sau mà chỉ tin vào kiếp này. Vì khi chết họ về với Thánh của họ, ví như cơ đốc hay hồi giáo chẳng hạn… họ tin họ sẽ về với Thánh Ala, Chúa Trời…chứ họ không đi đầu thai ở đâu cả.</p>
<p>Cũng vậy trong đời sống của loài người: Người theo tôn giáo khi họ đã tín thì họ sẽ bất chấp mọi cái. Ví dụ đơn giản thôi như đạo Hồi họ không ăn thịt lợn bởi đó là con vật dơ bẩn, Hin Đu không ăn thịt bò .... Nếu con tôn trọng họ thì bình thường, còn không tôn trọng họ thì con nói họ ngu hay sao thì tùy .....</p>
<p>Cũng vậy quan niệm của người Việt, người Nhật, người Tầu... Á đông nói chung là quan niệm vạn vật hữu thần, vạn vật hữu linh. Cỏ cây hay mọi vật ... đều có linh hồn và những linh hồn đó đều có thể thông linh. Nhưng các tôn giáo phương Tây hay Ấn độ hay ngoại lai như đạo Phật kế thừa tinh hoa của phương tây của Ấn Giáo....thì khác đó.</p>
<p>Họ quan niệm cây cỏ không có linh hồn .... mọi vật không có linh hồn, chỉ có loài người và động vật là có linh hồn.</p>
<p>Ta hay Á Đông nói chung thì vạn vật hữu linh, hữu thần.</p>
<p>Hoặc kể cả niềm tin sau khi chết cũng vậy. Có đạo Cơ Đốc tin về với Chúa nước của Chúa, có đạo Hồi về với thượng đế Thánh ALa.... có đạo Hin Đu Bà La Môn tin luân hồi theo thượng đế đã an bài. Rồi đạo Phật học lại của Bà La Môn và Phật giảng khác đi chút cũng vậy: Tin luân hồi theo tam nghiệp (nghiệp quả ) và người tu đạo Phật như sư tăng đặt mục tiêu thoát khỏi nghiệp quả luân hồi xoay vần.</p>
<p>Người Việt Nam có niềm tin “sống để da chết để xương”, “sống vì mồ mả không sống cả bát cơm”... Rồi sau khi chết về tại mồ mả, tại ban thờ gia tiên tiền tổ, con cháu thờ cúng 4 đời. Rồi cũng có người đầu thai sang kiếp khác sau khi được con cháu thờ phụng trong 4 đời còn gọi là tứ đại mai thần chủ (cũng là một kiểu luân hồi )… Hay người tu đồng thì cầu “sạch sành sanh còn manh áo đỏ” về với Chư Thánh…</p>
<p>Nhưng người Việt cũng có niềm tin sâu sắc về việc nếu sống không tốt sau khi chết đầu thai thành con nọ con kia hay phải chịu nghiệp này kia ở kiếp sau (chỗ này bởi giao thoa với niềm tin của đạo Phật).</p>
<p>Niềm tin lúc này theo hai hướng:  hoặc già chết về với gia tiên, tiền tổ, về với Mẫu để tu tập và khi được con cháu thờ cúng đủ 4 đời thì đi đầu thai kiếp khác. Chỉ một số người sống có công với cộng đồng, với dân tộc, với dòng họ (gọi là sống anh hùng thác anh linh đó)... thì còn được con cháu hay cả dân tộc thờ phụng không phải đầu thai. Còn đâu đa phần là đầu thai giống như quan điểm đầu thai kiếp khác của Nhà Phật. Tuy bề ngoài hai hướng niềm tin này có vẻ mâu thuẫn nhưng lại gắn kết với nhau.</p>
<p>Đương nhiên anh đã tin đạo nào tức là anh nương tựa về mặt tinh thần vào đạo đó, vào các lý tưởng, vào đấng tối cao của đạo đó sẽ dẫn dắt anh.</p>
<p>Anh tin đạo Phật, tin vào nghiệp báo … anh tín Phật là tốt nhưng cũng nên nhớ rằng Phật không độ, Phật chỉ đưa ra đường tu, trí tuệ về tam nghiệp, nhân quả của con người trong luân hồi. Đường của Phật giảng là Bát Chánh đạo, Tứ Diệu Đế chứ ngài không độ. Ngài từng nói “49 năm ta chưa nói gì”. Ngài chỉ để lại con đường trung đạo để ta tu luyện “TỰ TA”, không ai cứu cánh lấy ta ngoài ta cả.</p>
<p>Phật vẫn thuyết dựa trên truyền thống tín ngưỡng  Bà La Môn giáo của Ấn Độ, vẫn lấy luân hồi lấy nghiệp của Ấn Giáo làm cơ sở chỉ thay đổi cách nhìn nhận và lý thuyết đề ra niềm tin của tam nghiệp của con người rằng có kiếp sau, có nghiệp quả… nếu anh gây nghiệp, anh giết người cướp của, ức hiếp người, tham ô…  kiếp này thì a phải chịu nghiệp và kiếp sau a phải trả. Hoặc kiếp trước anh gây nghiệp kiếp này anh phải trả .... và bác bỏ cái gọi là đấng tối cao mà thôi .</p>
<p>Nhưng trên thực tế có ai đang sống mà nhìn thấy kiếp trước, kiếp sau của mình và chính xác những nghiệp mình phải trả kiếp sau … như Phật không? Không có, chỉ Phật nhìn thấy và không có bất kỳ một ai nhìn thấy.</p>
<p>Ta có thể tin là Phật nhìn thấy nhân quả nghiệp báo của con người nhưng chính bản thân ta thì không nhìn thấy.</p>
<p>Ta tự tại kiếp này có thể ta thấy được kiếp này hiện sống nhưng ta không thấy rõ kiếp sau ta sẽ như thế nào, thành ai đầu thai thành con gì hay sống ra sao… dù đối với thầy hay với các con chuyên tu Phật thì lời Phật thuyết về nhân quả tam nghiệp là chân lý nhưng vì thầy với con không nhìn thấy thì cũng chỉ là chân lý đi mượn và được nghe người khác nói lại.</p>
<p>Cũng vậy, những người không tín Phật như theo đạo Chúa chẳng hạn: họ không tin luân hồi, họ chỉ tin và sống theo đức hạnh của Chúa và về với Chúa thôi.</p>
<p>Bên Thiên Chúa họ rất lành và tính sùng đạo của họ rất nhân văn. Dù họ không tin vào nhân quả nhưng họ tin vào Chúa, đức hạnh và sự cứu rỗi của Chúa. Sư tăng Việt cũng ối kẻ nói họ là tà đạo... một số sư tăng thì còn có tư tưởng cực đoan quy chụp tất cả niềm tin về tín ngưỡng tôn giáo trên thế gian này đều là tà đạo, chỉ có đạo Phật mới là chân lý và đả phá không từ một đạo nào chứ chả riêng cái Đạo Mẫu của người Việt.</p>
<p>Nhưng chúng cũng không hiểu chân lý của Phật Thánh nói về cái ta không nhìn thấy cũng chỉ là chân lý đi mượn.</p>
<p>Cũng vậy thầy nói thế này để con dễ hiểu dù là chân lý thôi: Thế gian đều khổ nhưng khổ trên sách khác với khổ thật nhiều lắm.</p>
<p>Một ông sư không có con, không gia đình nói chuyện ốm đau của con người khác không bao giờ chuẩn được:</p>
<p>Các con đã làm bố hay mẹ từng trải qua sự lo lắng khi con mình ốm đau hay nhập viện cảm giác lo lắng đó sốt ruột như ngồi trên đống lửa đó. Ông sư không phải bố mẹ chúng sẽ không bao giờ cảm nhận được, dù ông ý có đọc hết các kinh cũng không cảm nhận được cái sự ngồi trên đống lửa đó.</p>
<p>Tóm lại ông sư đó nói lời không chân thật bởi ông ta không có con và sẽ không bao giờ nếm trải cái lo lắng khi con mình ốm đau bệnh tật.</p>
<p>Cũng vậy thôi, ông ta không vợ không biết được sinh hoạt vợ chồng yêu thương giao cảm thế nào, ái tình hạnh phúc ra sao…</p>
<p>Ông sư có ôm vợ hay ôm chồng yêu thương ... thậm chí dung tục chút là ông ý có hôn nhau với người mình yêu đâu mà có được cảm xúc đó...</p>
<p>Và cũng vậy ông ta xuất gia vậy nên gần như không người thân. Ông ta cũng sẽ không bao giờ biết được khi người vợ lâm bồn thì chồng lo lắng ra sao và cũng không biết đứa trẻ chào đời mẹ tròn con vuông thì bố mẹ chúng hạnh phúc thế nào…</p>
<p>Cũng vậy kể cả chia ly sinh tử đau đớn vì cái chết của người thân ông bà bố mẹ.... liệu ông ta có nếm trải chân thật không? Và đặc biệt bây giờ ông ta cũng không phải đi ăn mày như xưa, chỉ nguyên có chùa là ông ta có vô số người cung phụng và có tiền thoải mái ăn tiêu vậy nên ông ta cũng không bao giờ biết cái vất vả khi kiếm ra đồng tiền thế nào và tất cả… còn nhiều thứ....cũng chỉ nhìn qua sách báo.</p>
<p>Các con từng nghe thầy giảng rồi:</p>
<p>Chân lý của ta rất đơn giản vì nó được nghiệm chứng của chính ta.</p>
<p>Đừng áp đặt và đả kích người khác bằng chân lý đi mượn dù đó là chân lý của Phật Thánh.</p>
<p>Con thấy về tinh thần người Việt ta ngàn đời nay cũng có niềm tin riêng của tộc Việt đều thờ gia tiên của mình ở ban thờ, khi xưa các cụ rất chú trọng tới nhà thờ Tổ. Ở thế giới bên kia nhưng vẫn luôn có sự hiện hữu của ông bà, gia tiên… Ta phải sống làm sao đúng tính nhân văn và cộng đồng Việt để lúc nằm xuống được về với các cụ, được các cụ ở thế giới bên kia đón về với các cụ.Và bản thân cũng ngẩng cao đầu được theo chân các cụ mà về nhà thờ Tổ, để cho con cháu nhìn vào nề nếp Tiên Tổ mà noi theo.</p>
<p>Ai mà sống không có đạo đức hay phạm tội đều không được về đoàn tụ với ông bà, các thần linh sẽ chế tài khi phạm tội và mắc nghiệp thậm chí bị giam trong ngục.</p>
<p>Giờ sư tăng họ giảng bác bỏ hết. Sai lệch và xuyên tạc  khiến cho nhiều người cứ mê mờ tin mình gây nghiệp thoải mái để hi sinh đời bố củng cố đời con. Hoặc gây ra chuyện gì lại tặc lưỡi nghĩ vì mày nợ tao kiếp trước nên giờ tao đòi mày???!!!</p>
<p>Thậm chí họ còn giảng u mê đến mức để cho ai tin nghiệp quả theo cách mà họ giảng thì nếu có bị tai vạ, tai nạn hay thua thiệt.. đổ vỡ thất bát... thì đổ ngay cho nghiệp và cho rằng ta đáng phải chịu vậy...</p>
<p>Vậy là có chỗ đổ lỗi, có chỗ chịu tội thay, có chỗ mà xoa dịu sẵn sàng quên đi khi ta bị lừa đảo hay bị áp bức bị đánh đập tai nạn .... mà không tự tư duy học theo tiền nhân tìm cách tháo gỡ, tìm phương pháp khắc phục hay vượt qua và vươn lên bỏ lại chướng ngại.</p>
<p>Đây hơi chút bị áp bức thì cũng nghiệp, bị lừa đảo cũng đổ cho nghiệp ... tai nạn hay tai họa đổ vỡ là đổ cho nghiệp… không còn tinh thần cầu tiến khắc phục tranh đấu và vươn lên trong thực tại.</p>
<p>Thực ra, tin Phật rất chuẩn. Thầy và các con đều tin Phật nhưng phải tư duy theo lối nhà Phật.</p>
<p>Phật nói Phật chưa giảng một cái gì suốt ngần đó năm tại thế là phải hiểu như sau:</p>
<p>Chân lý thì thường đơn giản, mọi cái dẫn chứng đi mượn hay giảng đạo kiểu kiếp trước kiếp sau ... không nhìn thấy... hoặc lý lẽ viện dẫn lòng vòng thì đều không phải là chân lý.</p>
<p>Tin nhân quả rất chuẩn nhưng phải tin có chế tài nhân quả ngay cả hiện kiếp, chế tài đó là hiện tại hiện kiếp đối với người Việt về tâm linh, chế tài là quỷ thần 2 vai. Bây giờ nghe giảng xằng mà xóa bỏ hay không ai quan tâm vì cái lý thuyết kiếp sau mới chịu tội thì hỏng.</p>
<p>Còn Thầy vẫn giảng Phật có tam bất năng chúng con phải hiểu. Vậy mới có câu: “Phật từ bi Thần Thánh một ly cũng chấp”. Câu này nó bù vào cái tam bất năng của đạo Phật.</p>
<p>Cái quan trọng là giờ thiên hạ họ nghe sư tăng giảng xằng vậy họ không tin có quỷ thần và Tổ tiên cùng Thánh nhân Việt ở hai vai, mà mượn cái chân lý abc để đánh đồng thành kiểu tà ma.</p>
<p>Và chế tài hiện kiếp hoặc niềm tin ban phát phù hộ bởi Thánh Thần bởi gia tiên hiện ngay để bù vào cái tam bất năng của đạo Phật cũng bị những kẻ giảng sai, giảng xuyên tạc hay chối bỏ, xóa bỏ sẽ làm ảnh hưởng đến con cháu chúng ta.</p>
<p>Giảng kiểu: chỉ tin kiếp sau mới bị quả báo, tin vào nhân quả luân hồi của con người của chính mình nhưng bác bỏ thần Thánh gia tiên, quy đồng gia tiên Thần Thánh là tà ma.... thì mệt mỏi lắm.</p>
<p>Tam Bất năng của ông Phật họ không giảng, Phật không ban phúc cho ai chỉ có gia tiên và thần thánh mới ban phúc cho con cháu họ cũng không giảng…</p>
<p>Nói theo kiểu nào cũng đúng thì thành 2 mặt. Mặc dù Phật cũng chả độ cho ai, ban lộc cho ai cũng chả giải nghiệp được cho ai đều tự ta thọ nghiệp của ta....</p>
<p>Nhưng không ai dám phủ nhận chỉ có gia tiên Thần Thánh mới hộ đỡ con cháu: Phât cũng chả chuyển nghiệp hay gánh họa gánh nạn cho ai, chẳng giải nạn cho ai, che chở ai thậm chí nếu nhà nước ta bị tầu đô hộ bị cướp bóc hãm hiếp áp bức tai nạn .... tất cả lại bị cho là nghiệp???!!!</p>
<p>Chỉ có gia tiên mới che chở đấu tranh và truyền thừa ban phát cho chúng ta thôi...</p>
<p>Vậy gia tiên đã Âm phù thì cũng phạt là bình thường.</p>
<p>Lại nói: Về tâm linh giữa đấng linh thiêng hay đấng tối cao và con người, con vẫn tin về đấng linh thiêng hơn phải vậy không? Và ai cũng phải tin quỷ thần chế tài và quỷ thần 2 vai hơn chứ.</p>
<p>Con phải nhớ “đời cha ăn mặn đời con khát nước” hậu quả con cháu cũng phải gánh như bao đời Việt tộc truyền lại chứ không phải và chưa chắc đã phải là ta làm ác kiếp này kiếp sau ta chịu.</p>
<p>Phải nhớ phạt cả họ khi một ông bố làm ác, phạt con phạt cháu là bình thường.</p>
<p>Hậu quả trên đời đang quá nhiều người tin mấy ông sư tăng giảng xằng chả đâu xa: ngày ngày đi lễ chùa và và song hành cúng dàng công đức tỏ ra thiện lành phật tử nhưng làm ác thì thôi rồi , từ tham ô đến móc ngoặc đến cậy quyền chức cướp bóc đè nén rồi làm giả làm điêu... thuốc giả thuốc độc đủ loại.</p>
<p>Con cứ mở facebook mấy người làm ác bị nhà nước bắt bỏ tù ra mà xem chúng chăm giảng Phật và toàn đi chùa nghe sư giảng kiêu xằng bậy cả đấy.</p>
<p>Quá tin vào kiếp sau, tin vào việc mình làm sai kiếp này kiếp sau mình chịu nghiệp thì khi kiếp này a làm sai rồi, anh có bị tha hóa tiếp không, RẤT DỄ. A có thể vừa mắc lỗi tham ô hôm nay, mai anh lại tham ô tiếp, kẻ vừa cướp của giết người hôm nay nhưng một thời gian sau có thể lặp lại… kẻ bán thuốc giả làm thuốc giả thuốc độc hôm nay mai làm tiếp bất chấp tính mạng của con người của nhân dân...Tại sao ư?</p>
<p>Vì anh ta nghĩ kiếp sau anh ta mới phải chịu nghiệp cơ mà. Mà kiếp sau thế nào chưa ai nhìn thấy, anh không nhìn thấy vậy lấy gì để a sợ ???</p>
<p>Lại có người cho rằng kiếp này dù có làm sai thậm chí dùng đủ mọi cách để làm giầu để vươn lên để có quyền, có chức, có tiền dù bằng những hành động gần như hại nước hại dân nhưng họ vẫn không sao bởi kiếp trước họ cho rằng họ đã làm phúc, họ có phúc tích từ trước… kiếp sau chưa chắc đã bị sao…nếu thấy lương tâm cắn dứt chút cứ đi chùa lễ phật đưa tiền cho ông sư nào đó bằng 2 từ công đức hay xây hoặc đúc quả chuông cái chùa nào đó lễ lạt nào đó ...sẽ được xóa bỏ.... Con cứ nhìn mấy tay bán thuốc ung thư giả và kít xét nghiệm giả hay mấy tay tướng lĩnh quan to thậm chí lưu manh ăn cả tiền xác chết vừa bị bắt đó 100 % là tín cái mấy tay sư bố láo đang giảng và 100% là công đức hoặc lễ lạt và xây chùa đúc chuông.</p>
<p>Vậy họ có sợ đâu? Hễ là cứ sai lại sai mãi.</p>
<p>Bởi rằng: Con người thường sợ hãi đấng tối cao hay siêu nhiên chứ không bao giờ sợ hãi chính mình. Chỉ nói mình tạo nghiệp mà kiếp này không bị quả báo đợi kiếp sau thì họ không sợ đâu, hy sinh đời bố vủng cố đời con là bình thường. Có chăng lương tâm cắn dứt thì đi đút lót sư và Phật.</p>
<p>Các tôn giáo khác rất giống Việt tộc là quỷ thần hai vai với triết lý niềm tin về thiện ác. Những người tín Thần Thánh, tin quỷ thần hai vai… họ đều sợ trả giá khi tạo ác bởi sự linh thiêng và tối cao về tâm linh về âm phần chế tài. Họ đâu có mặc nhiên mê mờ chỉ tin quả báo kiếp sau kiếp trước.</p>
<p>Riêng mấy tay sư loạn giảng rằng đạo Mẫu và Thánh nhân Việt tộc là ma tà... bắt vạ phạt vạ.... lại lấy cái lý thuyết vay mượn gây nghiệp kiếp sau mới trả vậy thì không ổn.</p>
<p>Sự chia đôi niềm tin của người Việt nó có từ xưa nhưng nó rất hài hòa bởi Đạo Việt bù vào cái tam bất năng vủa đạo Phật. Giảng như mấy tay sư bây giờ sẽ làm con người không sợ trả giá ngay, không nể sợ Thần Thánh coi thường thần Thánh Việt.</p>
<p>Thậm chí mấy thằng sư còn chưa tu đã thành Phật chúng tỏ ra tu Phật là cao cả, Thần Thánh hay Thánh nhân Việt ......sao so với Phật được .. mượn lý lẽ bẻ cong đi rồi hạ thấp Thánh nhân Việt thành tà ma và chúng có thể chế ngự tà ma .... bảo ban dậy bảo abc.... Rồi gián tiếp ngã mạn cho rằng Thần Thánh Việt còn bé hơn chúng, không ai phải sợ cả. Dù có gây lỗi lầm gì hay giết người cướp của hại nhân hại nước tham ô móc ngoặc.... cứ đến gặp chúng vì chúng đại diện Tam Bảo, chúng sẽ abc… là không ai bị phạt cả ...... Chính bởi thế mà sự giả tạo và tha hóa thời nay đã lên đến đỉnh điểm.</p>
<p>Không nói đến quan chức cậy quyền cậy thế hay kẻ cậy mạnh hiếp yếu gì.</p>
<p>Ngay nông dân bây giờ nghe giảng cũng tha hóa sống chộp giật thuốc sâu... bỏ bừa bãi ... chăn nuôi tăng trọng.... làm hại cộng đồng trái với từ “lương dân” của dân tộc. Ai cũng xưng theo đạo Phật mà quên mình là “lương dân” những người nương tựa gia tiên ông bà bố mẹ Thần Thánh tại đình đền lăng miếu ..... bỏ từ “lương” thì hỏng rồi đó.</p>
<p>Hãy nhìn người theo đạo Thiên Chúa, ta nhìn thấy một cộng đồng rất nhân văn, sống hướng theo những điều tốt đẹp… nhưng họ đâu có tin theo thuyết tam nghiệp của Phật mà họ tin vào Chúa, sống dựa và hướng theo đạo đức của Chúa , họ cố sống làm sao đúng với đức hạnh của nhà chúa để chết họ được về với Chúa. Vậy tức là niềm tin họ đặt ở Chúa và tuân theo chế tài đề được về với Chúa. Nếu khi sống anh không tuân theo chế tài, không đúng với Chúa thì anh không về được với chúa mà các vị quỷ thần sa tăng (các vị quyền năng ngang với chúa nhưng không theo chúa) sẽ xử lý anh, dụ dỗ anh theo con đường ma đạo, tà mị.</p>
<p>Người Á đông nói chung hay ví như Nhật cũng vậy: họ cũng như ta tin vào gia tiên và thần đạo họ rất sợ Thần Thánh phạt vạ và càng sợ không được nhập Thần xã khi chết đi.</p>
<p>Bản chất là người ta tin vào một đấng quyền năng, tin vào chế tài khi làm sai …luôn hơn hẳn chỉ tin vào CHÍNH TA (tự tại).</p>
<p>Ngày nay ta thấy nhiều người với quan điểm rõ ràng và theo hướng tiêu cực cũng bởi quá tin vào mấy tay sư mượn cái gọi là chân lý vay mượn giảng xằng ... nghiệp báo kiếp sau mới đến như: Thấy người giàu cũng phải bon chen cố giàu hơn họ, nó đi cướp của thiên hạ mình cũng cướp được, nó lừa đảo được mình cũng lừa được, nó tham ô được mình cũng tham ô được… nó bán thuốc ung thư giả được thì ta làm kít xét nghiệm giả được.</p>
<p>Thằng nào chết hay ai chết dân chết nước nghèo hèn đó là việc không liên quan. Còn đối với chúng kiếp sau bị sao nghiệp gì chưa biết, kiếp này sống cái đã…</p>
<p>Những người tu Phật chân chính, tu học về nghiệp báo nhân quả và cả các vị rao giảng Phật học cũng phải nắm rất rõ chỗ này để hiểu và giảng cho đúng. Nếu chỉ nói qua qua khiến người nghe theo hiểu phiến diện 1 chiều thì sinh rất nhiều vấn đề.</p>
<p>Cũng bởi vậy mà người ta tu theo Đạo Mẫu và Đạo Phật nên song hành.</p>
<p>Đạo Phật đi đến bất cứ quốc gia nào cũng phải kết hợp với tôn giáo bản địa mới có thể phát triển được, tôn giáo bản địa đó mới là tôn giáo cầm cân nảy mực và bù trì cho sự thiếu sót trong quan điểm “kiếp sau” của đạo Phật.</p>
<p>Tại sao Đạo Phật bị loại ra khỏi Ấn độ? Chính bởi không kết hợp với Thần đạo Ấn độ (Bà La Môn). Có thời kỳ đạo Phật bị coi là tà giáo ở Ấn độ, bởi quan điểm nghiệp kiếp sau khiến người ta bất chất kiếp này.</p>
<p>Khi về Việt Nam, Đạo Phật muốn tồn tại và phát triển bắt buộc phải gắn liền với tôn giáo bản địa chính là tín ngưỡng của Việt tộc mà kế thừa nó là Đạo Mẫu.</p>
<p>Người Việt ta từ xưa quan điểm: “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”, đó là hình thức chế tài của Thần đạo Việt Nam, của gia tiên tiền tổ Việt Nam. Mày ăn không, ăn cướp của dân, ăn không nói có, buôn điêu ban chác, hãm hiếp cướp của, đè nén người khác thì con mày sẽ bị cướp bóc lại, đè nén lại…Hay với những kẻ gây họa và bị quả báo bị phạt ngay thì người ta nói rằng “Đời mày ăn mặn thì mày khát nước ngay”.</p>
<p>Các con nhớ rằng: Những mảnh đất sinh ra các triết lý càng cao xa thì những mảnh đất đó càng mê tín.</p>
<p>VD như ở Ấn độ có đến 7-8 dòng triết lý rất cao xa hướng người ta đến tu hành, từ đó lại rất mê tín.thái quá.</p>
<p>Các con là người tu đạo, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào nghiệp, tin vào nghiệp kiếp sau thì đôi khi lại thành phản tác dụng, thành từ vô ý mà cố tình làm sai tại kiếp này hoặc nếu không sẽ sống giả tạo từ trong tâm hay có một số người cực đoan sẽ mượn cái triết lý cõi tạm mà u mê đến ngu muội bỏ mặc mọi thứ trên đời khi đang làm kiếp con người.</p>
<p>Chúng đâu biết: KHUÔN KHỔ PHẢI CÓ.</p>
<p>Con người là tiểu vũ trụ thật nhưng to lớn như mặt trời hay mặt trăng cũng phải quay quanh quỹ đạo của nó.</p>
<p>Người theo đạo Thánh phải hiểu, Nhà Thánh có phạt có hành nhưng là “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” là để giáo huấn và chỉnh lại cách sống hiện kiếp của con người.</p>
<p>Ví như người ta ăn trộm, ăn cướp hay tham ô 5 triệu nhưng không ai phát hiện ra, pháp luật không biết mà xử lý thì có thể anh ta biết đó nhưng anh ta nghĩ quá lắm kiếp sau mới chịu nghiệp mà ai biết kiếp sau thế nào, thế là mai lại đi, kia lại đi, cứ trộm cứ cướp cứ tham ô được đã và con số không dừng ở 5 triệu mà sẽ lên 15 triệu, 150 triệu rồi dần dần đến tiền tỷ.</p>
<p>Nhưng nếu là người Việt có tín gia tiên, tiền tổ, tín Thánh Thần Việt thì lại khác: Trước kia ở các ban thờ gia tiên hay có các giá hương, có hoành phi ca ngợi truyền thống và nhắc nhở con cháu coi trọng truyền thống bao đời, đền thờ có bàn loan giá hương… là để soi lại chính bản thân mình xem đã sống đúng với tổ tiên chưa? Tổ tiên anh không ăn cắp mà anh kiếp này ăn cắp thì a phải tự soi lại mình, phải sửa mình … nếu không là có lỗi với gia tiên, gia tiên không khuông phù khi sống, sẽ chịu quả báo nhãn tiền, con cháu cũng bị vạ lây… rồi đến khi chết cũng chẳng được về với ban thờ gia tiên, con cháu chả cúng lễ…</p>
<p>Hay như người Việt ta hay gọi mình là theo bên “Lương”, lương ở đây là lương tâm, chính là con cháu phải biết kính cha mẹ ông bà gia tiên tiền tổ, làm gì cũng phải soi xét lương tâm xem mình có xứng với gia tiên…hay chưa, làm việc này có sai trái không, có hủy hoại thanh danh dòng họ không…</p>
<p>Gia tiên soi xét phạt con cháu làm sai, sống sai. Rồi gia tiên Việt lại cũng nương nhờ cửa Đình Thần để răn đe, để phạt con cháu, để nắn chỉnh nó sống cho đúng. Và có những trường hợp nhà Thánh phạt kẻ sống sai, phạt cả gia tiên của kẻ đó vì không biết cách dạy dỗ răn đe con cháu. Từ đó gia tiên biết mà uốn nắn chấn chỉnh con cháu mình. Cũng có khi gia tiên làm sai hoặc có nghiệp thì con cháu phải chịu phạt, phải gánh nghiệp cho cả dòng họ…</p>
<p>Vậy nên xưa mới hay có câu: “Ra đồng gánh nghiệp cho cả họ” là vì vậy.</p>
<p>Có công thì được thưởng, có tội phải chịu phạt đó là lẽ đương nhiên, và là nhãn tiền, đời mình, đời con cháu mình đều phải chịu chứ không có chuyện phải chờ kiếp sau mình đầu thai.</p>
<p>Nhiều người mang danh tu đạo Phật trong chùa, nghe các vị sư không hiểu biết rao giảng một chiều phiến diện về nghiệp kiếp trước kiếp sau… lại sinh tâm giả tu, giả thiện. Trong chùa thì anh ra vẻ lương thiện, làm điều tốt điều lành… ra khỏi chùa anh vẫn đi ăn chặn, tham ô, hối lộ, lừa đảo, cướp bóc… đủ các loại. Rồi lại tha hóa theo kiểu quan điểm “Hy sinh đời bố củng cố đời con” … sai hết cả.</p>
<p>Xã hội mà có những người giả thiện, giả tu sai lệch như vậy mới sinh ra loạn, mới nào là trộm cắp, giết người, nào là buôn bán người, buôn nội tạng… không tội ác gì là không dám làm. Hậu quả thực sự rất lớn.</p>
<p>Người tu đạo thực sự có tâm tín Thánh, Tin Phật, tin theo định hướng tốt đẹp của Phật của Thánh, nghe theo sự giáo hóa và cả các chế tài khi làm sai để soi mình và sửa mình… phải có chính kiến và suy xét chứ không phải cứ chăm chăm nghe theo các vị giảng xằng giảng bậy, giảng phiến diện.</p>
<p>Con người sống phải có pháp luật, có chế tài. Cũng như niềm tin tín ngưỡng và tôn giáo cũng phải có những chế tài, những nguyên tắc thì người ta mới có cái mà soi lại mình, mới cân chỉnh mình để sửa sai, để sống tốt sống đúng hơn . Có những cái pháp luật đời sống chưa phạt hay không phạt anh nhưng anh có niềm tin tâm linh, có chế tài về tín ngưỡng tâm linh thì anh mới có thể có cái để dựa vào, để biết sai biết đúng mà sửa.</p>
<p>Ví dụ hôm nay anh ăn trộm ăn cướp, gia tiên anh thấy anh làm sai, xấu hổ dòng họ… mới ra tay phạt hoặc cậy nhờ quyền phép nhà Thánh phạt để răn đe, để uốn nắn anh, để anh không lấn quá sâu vào việc sai trái đó. Vậy mới có câu “Quỷ thần 2 vai” là vì lẽ đó.</p>
<p>Xưa kia những kẻ bán nước, phản bội… hại làng hại nước hại dân...còn không được đặt chân vào đình làng, những kẻ mắc tội nặng khi chết đi cũng không được lai vãng vào các đền phủ… Cha ông gia tiên mang nghiệp nặng quá nhiều, phải đưa con cháu ra gánh tội thay, bị phạt vạ là lẽ đương nhiên. Trước là để tự giác sửa đổi, khuôn khổ lại bản thân, hai là biết mình phải tu tập tạo phúc đỡ nghiệp trả nghiệp đã gây của gia đình, cha mẹ, gia tiên tiền tổ…</p>
<p>Hay ví như những kẻ tham quan, những kẻ cướp bóc lừa đảo ... hại người hại dân....chiếm đoạt của người để lấy tiền chi cho gia đình con cái mình, nghĩ là “hy sinh đời bố củng cố đời con”, có gì tự ta làm ta chịu, nghiệp kiếp sau làm trâu ngựa bản thân tự gánh … KHÔNG CÓ CHUYỆN ĐÓ. Anh làm sai nhưng cái tiền cái bạc cái danh cái địa vị của anh đem về nuôi vợ con gia đình anh, con cháu anh chi tiêu sử dụng cái tiền thậm chí hưởng thụ ở đồng tiền đó, địa vị đó, có từ cái sai trái đó mà lớn lên thì phải gánh cái nghiệp do anh tạo nên là lẽ đương nhiên. Anh bị phạt, con anh, gia đình anh thậm chí đến đời cháu và nhiều đời sau vẫn bị phạt, bị bắt vạ nếu tội nặng cũng không có gì lạ.</p>
<p>Người ta hay nói: “Phật từ bi hỷ xả, Thánh 1 ly cũng chấp”. Hiểu đúng thì người tu học theo cái từ bi của Phật, nhưng phải biết mà sợ cái chế tài nếu mình làm sai làm láo ắt sẽ bị quỷ thần và Thánh phạt:</p>
<p>Chết thì bị giam hãm ngục hình âm tào quỷ sứ khảo đả, con cháu chịu nghiệp liên đới chả có sư tăng nào có thể cứu ra được, trừ khi con cháu tín vào Phật vào Thánh và sống đúng tinh thần phật Thánh tín quỷ thần, sống đúng tinh thần và truyền thống yêu nước thương nòi vì cộng đồng vì dân tộc thì gia tiên mới hết khổ, ta mới hết bị phạt vạ.</p>
<p>Con nhớ rằng: loài người có cộng đồng loài vật thì bầy đàn.</p>
<p>Cộng đồng loài người nhỏ như gia đình làng xã lớn đến quốc gia dân tộc... anh tu Phật mà rời bỏ cái truyền thống của dân tộc của xã hội của cộng đồng Việt tộc, chỉ biết đến cái gọi là tự ta cái gọi ta làm ta chịu .... chủ nghĩa cá nhân 1 mình làm kiếp sau mình chịu, không cần biết hiện kiếp và cộng đồng, sẵn sàng hy sinh đời bố củng cố đời con phá bỏ tính con người tính cộng đồng lẫn truyền thống đâu có được. Nó sẽ làm hỏng cả dân tộc này.</p>
<p>Con nhớ rằng rao giảng kiểu mất dậy như mấy tay sư đó không cần kiếp sau, những kẻ tín những lời rao giảng đó mới thành súc sinh ngay mà thậm chí kiếp này chúng cũng không bằng cả súc sinh.</p>
<p>Bởi con vật thôi nó cũng sống bày đàn và có truyền thống lẫn truyền thừa chứ đừng nói con người sống có cộng đồng làng xã dân tộc quốc gia. Ví dụ rất thực tế thầy nói con nghe:</p>
<p>Thầy nói con biết một việc nhé: Tại sao người già của Nhật lại hay tự tử?</p>
<p>Những người già của Nhật họ có tiết kiệm số tiền quy ra tính cũng hàng trăm ngàn đô la họ còn có lương hưu và tiền trợ cấp số tiền đó họ đủ để sống sung sướng đến cả trăm năm không phải lo trong khi đó họ lại tự tử bằng một lý do: Ăn bám xã hội.</p>
<p>Quan niệm của họ cực đoan nhưng họ vẫn cho là đúng.</p>
<p>Họ cho rằng họ quá đông kẻ già và đang ăn uống hưởng thụ mà không lao động và cống hiến cho dân tộc Nhật Bản, cho đất nước Nhật Bản họ đang kéo tụt dân tộc Nhật Bản xuống dốc bởi họ không làm việc.</p>
<p>Trong khi thực ra họ vẫn đang sống bằng tiền tiết kiệm của mình.</p>
<p>Cái này có lẽ hơi cực đoan chút nhưng tư tưởng họ luôn vì dân tộc và vì cộng đồng. Con cứ nghĩ xem nước Nhật là một trong những nước có nhiều người cao tuổi giầu có nhưng vẫn lao động, có những cụ gần 90 vẫn đi làm, bởi quan niệm của họ là quan niệm cộng đồng và họ phải có ích cho dân tộc không muốn kéo tụt cái cộng đồng Nhật Bản.</p>
<p>Thầy đã nghiên cứu việc này sau mới biết tại sao.</p>
<p>Vì quan niệm của họ là: họ nếu không đóng góp cho cộng đồng không lao động được nữa sẽ làm hại cả cộng đồng và dân tộc Nhật Bản thì họ còn thua con vật chưa tiến hóa thành người bởi một đàn thú chỉ có quá nhiều con già sẽ di chuyển chậm, không biết săn mồi hay kiếm ăn sẽ làm cả đàn tụt hậu trì trệ về phía sau so với các đàn khác.</p>
<p>Cũng vậy đối với kẻ đi ngược lại cộng đồng đi ngược lại lợi ích dân tộc và làm ảnh hưởng đến đất nước đến truyền thống họ cho rằng còn không bằng con vật.</p>
<p>Cũng ví như bầy đàn sư tử chẳng hạn: một con thủ đoạn lười làm chỉ chực ăn không chịu săn mồi thì sẽ kém đi một cá thể săn mồi không?</p>
<p>Hay trong đàn đó cỏ một con chỉ biết mình có thức ăn là ăn tất con mồi đã săn không chia sẻ cho ai hoặc luôn tranh ăn dù là của cả đàn săn được mà không nhường, chỉ biết mình dù ăn không hết no căng bụng cũng mặc kệ không cho những con còn lại ăn kể cả các con trong đàn đó từ nhỏ đến lớn. Có chăng khi gần ôi thối hư hỏng chúng mới bố thí để các con khác trong đàn ăn. Nó có kéo cả cái đàn đó tụt hậu không ốm yếu không?</p>
<p>Và hậu quả cả đàn kém đi sức cạnh tranh và cũng làm ảnh hưởng cả đàn khi các con khác ăn không đủ no và sẽ sinh ốm yếu bởi đói sẽ dẫn đến kéo tụt cả bầy đàn và bầy đàn khác sẽ thôn tính lãnh thổ. Chúng sẽ làm hỏng cả đàn.</p>
<p>Nhưng nếu trong đàn nhiều con sống kiểu cá nhân như vậy thì sẽ ra sao?</p>
<p>Đó trong súc vật một con nó đã làm ảnh hưởng cả bầy nhưng nếu có nhều con, các cá nhân mà đều chỉ vì ta, không vì bầy đàn và như vậy nó sẽ làm bầy đàn đó ốm yếu thảm hại sẽ không bao giờ có sức cạnh tranh với các đàn sư tử khác nữa.</p>
<p>Con người cũng vậy chưa bao giờ sống xa cộng đồng dân tộc lãnh thổ quốc gia dù anh ở đâu.</p>
<p>Anh có thể tín Phật nhưng không bao giờ được quên rằng anh còn phải có niềm tin vào truyền thống tín ngưỡng Thần đạo của dân tộc, còn có cha ông tổ tiên. Anh là con người có cộng đồng và không bao giờ được xa rời cộng đồng hay chỉ biết tự ta, tự tại hay ta làm ta chịu hay quá u mê vào quan điểm gây nghiệp kiếp sau.</p>
<p>Nhớ rằng: Tín ngưỡng nào hay đạo dù xuất phát từ tôn giáo nào nào mà giảng những cái gây hệ lụy đến cộng đồng đến dân tộc đến con người thì đều là tà đạo hết.</p>
<p>Kiểu rao giảng xằng bậy của mấy tay sư sẽ dẫn đến không sợ trời không sợ đất không sợ trả giá không sợ chế tài không sợ quỷ thần gia tiên hay một đằng âm linh thiêng nào cả. Chỉ chăm chăm vào tự ta, tự tại, giả dối, cá nhân, chỉ sợ kiếp sau thì càng hỏng. Vậy nên mới gây ra cái hình ảnh xấu xa của đạo Phật hiện nay.</p>
<p>Phật tử nói lời hay giao giảng hay như rồng cuốn rồng leo trong chùa nói nhân quả nghiệp báo .... nhưng ra khỏi cửa chùa thì thôi rồi làm bất ác không từ và gây bao tội nghiệp.</p>
<p>Vì họ đâu có sợ ai trên cõi đời này và có ai phạt đâu mà lo, còn cái kiếp sau thì hậu xét.</p>
<p>Đạo Phật ở Việt Nam chỉ nói đến nghiệp kiếp sau quả báo kiếp sau, nói đến từ bi nhưng lại không nói đến chế tài hiện kiếp, không răn đe… đặc biệt là thêm các quan niệm được giảng bừa như tu để niết bàn, cứ niệm phật về với phật rồi Phật từ bi mọi sự… công đức tiền của cho chùa abc thì hết nghiệp...thì sẽ dễ làm con người ta hiểu sai lệch, sinh tâm bất chấp làm sai, giả thiện.</p>
<p>Trong khi đó, từ xưa đến nay đi đâu đạo Phật phải kết hợp và dựa vào chế tài của Thần đạo cụ thể đại diện các tín ngưỡng truyền thống của dân Á Đông (đối với Việt Nam ở đây là tín nghưỡng Đạo Mẫu..) mới có thể tồn tại và phát triển theo hướng đúng đắn.</p>
<p>Cũng giống như đạo Phật ở các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Tây Tạng … cũng luôn gắn liền với Thần đạo bản địa chế tài bằng những Phù Thủy Áo Đen (đứng trước các chùa miến ), hay Mon Tra thái, Mani Hàn, Pon tây tạng Thần đạo nhật ....tín ngưỡng tôn giáo TQ... việt cũng vậy Tiền Thần hậu Phật…</p>
<p>Đạo Phật và Đạo Thánh tại Việt Nam nói riêng hay Thế giới Á Đông nói chung luôn song hành và gắn bó mật thiết với nhau, hướng người ta đến sự từ bi, tự tại, biết đến nhân quả nghiệp báo nhưng không mê mờ trong “nghiệp”, trong “ kiếp sau chịu nghiệp”…. mà phải biết đến cả chế tài, biết kính sợ Quỷ Thần hai vai, Kính Thánh, kính gia tiên… tại chính hiện kiếp này, biết tự xấu hổ, tự soi lại bản thân … thì mới sống là con người tốt được.</p>
<p>Có những vị sư vẫn hầu Thánh vì họ biết duyên nghiệp của mình là vì vậy.</p>
<p>Và cả những vị đang rao giảng với mác nhà sư kia cũng nên biết, rao giảng cho người bình thường khác với rao giảng cho người tu hành theo đạo, cho sư trong chùa khác với tu tại gia… đã giảng là phải hiểu sâu, hiểu rõ, hiểu bản chất chứ không hiểu mà cứ giảng xằng, giảng bậy, vừa giảng sai lệch đạo Phật, lại còn bôi xấu khiến người ta hiểu sai về nội đạo Thuần Việt (Đạo Mẫu - Đạo gốc của người Việt ), xuyên tạc là Thánh hành Thánh phạt người theo kiểu như tà ác… là không được.</p>
<p>Đâu cũng phải có chế tài. Đạo Mẫu như người mẹ, đứa trẻ hư phải dậy phải phạt khi mắc tội mới nên người.</p>
<p>Như thầy đây thôi, cụ đồng chưa lấy thầy một xu khi mở phủ. Nếu thầy lấy tiền các con khi mở phủ vậy thì cụ đồng có xin lệnh nhà Thánh phạt thầy không?</p>
<p>Làm trái luân thường đạo lý, làm trái với lương tâm, làm trái với truyền thống giống nòi, trái với dân tộc này là phải bị các cụ phạt, bị Thánh phạt đâu có gì lạ.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Vấn đề lập điện tư gia thờ thánh</title>
<link>https://tuvidonga.com/van-de-lap-dien-tu-gia-tho-thanh</link>
<guid>https://tuvidonga.com/van-de-lap-dien-tu-gia-tho-thanh</guid>
<description><![CDATA[  Giải điện là việc lợi bất cập hại không những chỉ có cho người lập mà còn gây hại họa cho cả dòng họ con cháu mong các bạn muốn thờ nhà Thánh đọc tham khảo. (lập thì dễ giữ lễ thì khó ) ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/06/image_380x226_665fdae563650.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:01:45 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>lập điện, giải điện thờ thánh tại gia</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p> Giải điện là việc lợi bất cập hại không những chỉ có cho người lập mà còn gây hại họa cho cả dòng họ con cháu mong các bạn muốn thờ nhà Thánh đọc tham khảo. (lập thì dễ giữ lễ thì khó )</p>
<p>VỀ  MỞ PHỦLẬP ĐIỆN TƯ GIA THỜ THÁNH</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/06/image_750x_665fdae545e9c.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="708" height="473"></p>
<ol>
<li><strong>Một số khái niệm cơ bản:</strong></li>
</ol>
<p>+ Điện: Theo từ điển Hán Việt là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam Tứ phủ. Tuy vậy quy mô của Điện thường nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ.</p>
<p>Phủ cũng vậy ( phủ là căn nhà lớn : dành cho quan lại công đường nha huyện vương gia vương công đại thần ..... người có quuền hành địa vị.</p>
<p>+ Phủ tư gia,  Điện thờ ai?: Thờ Thánh tứ phủ /Thờ nhà Trần / Thờ cả thánh tứ phủ và nhà Trần /Thờ Thánh bản cảnh kết hợp tứ phủ/... Thờ Phật kết hợp thờ Thánh… hoặc tổng hợp.</p>
<p>Hiện nay thường gặp nhất là điện thờ Phật kết hợp thờ Thánh  </p>
<p>+ Trên ban thờ của Điện thường có long ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần (hoặc tranh thờ) và các đồ thờ , đồ tế khí. khác: bát hương, nến, lọ hoa…</p>
<p>+ Điện có thể là của cộng đồng hoặc tư nhân. (Bài viết này thuần đề cập về điện tư nhân).</p>
<p>- Lưu ý:</p>
<ul>
<li>Điện công để bách gia lễ bái, nguồn tín ngưỡng đa dạng</li>
<li>Điện tư gia nếu để bản thân tu tập chưa tiếp khách hành đạo thì chỉ có nguồn tín ngưỡng nội tại cá nhân hoặc gia đình (mang tính chất cá nhân). Nếu đã mở cửa cho bách gia đến lễ bái hoặc có con nhang đệ tử thì không khác đền/điện công (xét về chức năng âm phần và nguồn tín ngưỡng lực).</li>
</ul>
<p> Nhưng cũng xác định điện phủ thờ Thánh ( mà Thánh nhân là của trung bách gia dân tộc ,vậy phải để bách gia lễ lạt chiêm bái cậy sở mới đúng ý nghĩa)</p>
<ol start="2">
<li><strong>Ai có thể lập điện thờ?</strong></li>
</ol>
<p>- Điều kiện cần: thủ nhang là người có căn số, đã trải qua nghi thức trình đồng và số phải mở phủ, ( số một mình một đền một phủ ) và đã là Thanh đồng cũng tinh thông phép tắc thờ tự tế lễ một mức độ nhất định.</p>
<p>Trường hợp đồng kế tự , nối tự (truyền thừa theo huyết thống) dù có tiếp quản hay không tiếp quản đền/điện của gia đình thì cũng phải là đồng nhân mới có thể lập điện riêng.</p>
<p>Nếu dòng họ ko có đồng nhân hội đồng gia tiên và bà cô tổ sẽ chỉ định người ra mở phủ trình đồng để kế thừa kế tự truyền đăng.</p>
<p>- Điều kiện đủ: (Cần phân biệt rõ)</p>
<p>+ Có thể thờ: Đồng nhân nhất tâm muốn thờ phụng Nhà Thánh tại gia.</p>
<p>+ Nên thờ: Đồng nhân có căn số PHẢI THỜ (Căn sâu quả nặng, được đồng thầy chỉ dẫn, định hướng…).</p>
<ol start="3">
<li><strong>Lưu ý khi lập điện/đền thờ Thánh tại gia</strong></li>
</ol>
<p><strong>Vị trí:</strong></p>
<p>+ Phong thủy: Gần sông/ Núi (Liên quan long mạch) – Gần Ngã ba sông /  Chợ nơi sầm uất (Thuận tiện bách gia lễ bái)…  ( nhất cận thị nhị cận giang tam cận lộ)</p>
<p>+ Âm khí: Điện thờ thông thường không nên chọn nơi âm khí quá nặng, vong ma chướng khí tập trung quá nhiều gây cản trở người mới lập điện. ( lên tìm nơi có linh khí ).</p>
<p>Chú ý: Điện thờ người hành pháp pháp sư (đặc biệt đồng trừ tà/ lập tĩnh điện dạng tự thu binh…) thì nơi âm khí nặng/ vong tà nhiều càng tốt. Tuy nhiên nếu năng lực khí huyết đồng nhân/ pháp lực còn kém thì vẫn nên tránh những nơi như vậy là hơn.</p>
<p>+ Ưu tiên những nơi đã từng là đất thờ Thánh từ xưa và có sẵn linh khí. Còn những nơi đã từng lập đền/điện mà chỉ còn binh trú ngụ và vong bám tá thì nên xem kỹ.</p>
<p>+ Nên xét thêm việc lập điện tại nơi đất chung với ai không?(tránh tranh chấp đất đai khi thờ phụng về mặt dương phần)</p>
<p>Đất thờ có chung với nơi ở không ? (Để cân đối ban thờ Thờ Thánh kết hợp thờ gia tiên trên một mảnh đất cho thuận tòng phần âm)…</p>
<p>Cũng có trường hợp Nhà Thánh ứng báo cho một ai đó lập ngôi điện để trấn áp phong thủy xấu khí mạch xấu nhưng rất ít.</p>
<p><strong>Quy mô:</strong></p>
<p>- Điện thờ tư gia không cần phải xa hoa, tráng lệ nhưng nhất thiết phải trang nghiêm, thoáng đãng, sạch sẽ và có không gian hợp lý đặc biệt cửa ra vào ngôi điện phải thông thiên , hoặc đại bái tiền điện phải thoáng đãng, một bước phải nhìn thấy trời. ( cửa vào ko  được lắt léo chui rúc) nhà nhiều tầng cầu thang phải qua phòng các tầng đưới  thì tiền điện mặt phải quay ra  ban công. Không lập điện thờ Thánh ở dưới các tầng có người ở bên trên .</p>
<p>- Cần xét đến mục đích của quy mô đền điện – Không phải cứ có ngân xuyến là xây thật to thật rộng thật hoành tráng.</p>
<p>Ghi nhớ:</p>
<p> “Rộng làm kép, hẹp làm đơn” – Không cố vay nợ bằng bất cứ giá nào để lập điện, cố xây dựng quy mô to lớn vượt quá khả năng một cách không cần thiết.</p>
<p>Tự tâm xuất muốn lập điện thờ Thánh, nhà ngài sẽ ân duyên gia hộ dẫn tài dẫn lộc, dẫn trợ duyên cả dương cả âm… để hoàn thành được tâm nguyện với những người biết đúng và biết đủ. Còn lấy cớ lập điện thờ Thánh mà vay nợ/ nợ nần/ lôi Thánh ra làm cái cớ… để lấy cái danh nhất thời cho bản thân thì không nên. Đôi khi còn bị trách phạt bởi đã sinh tà tâm, việc xây dựng và cả thờ tự về sau gặp nhiều chướng ngại.</p>
<p><strong>Đồ thờ</strong></p>
<p>- Đồ thờ: Tượng – Tranh -  Bài vị</p>
<p>Việc thỉnh tượng vị thánh làm bàn thờ thêm trang trọng. Nếu không có điều kiện thì chỉ thỉnh tranh hoặc thờ lô nhang, long ngai, bài vị cũng là lịch sự, đàng hoàng.</p>
<p>Ban thờ  có thể bằng gỗ tốt, gỗ thường, xây…</p>
<p>Các đồ tế khí - trang hoàng đền điện tùy điều kiện.</p>
<p><strong>Thứ tự rước tượng/tranh thờ Thánh tại đền điện</strong></p>
<p>-  Có điều kiện rước thờ 1 lần</p>
<p>- Chưa có điều kiện có thể rước thờ theo thứ tự:</p>
<ul>
<li>Thờ phật (Cho tâm an yên – Với người đã quy y - Không bắt buộc)</li>
<li>Thờ thánh bản mệnh chính cung ( Thánh thủ Điện )</li>
<li> Thờ công đồng chư Thánh…/ Trần Triều/ Sơn trang/ Bản cảnh…(tùy)</li>
</ul>
<p> .Thờ tĩnh điện riêng nhà Trần dòng Phù lục .</p>
<p>- Lưu ý:</p>
<p>+ Không phải cứ rước đủ tam tòa thánh mẫu, ngũ vị tôn quan, ông hoàng, tiên cô, thánh cậu, quan hổ, quan xà mới là đầy đủ. Tùy điều kiện, có khi chỉ cần một pho tượng vị thánh bản mệnh ( Thánh Thủ điện là Thánh bản mệnh  cũng có người thờ Thánh cho ăn lộc ban quyền phép là Thánh thủ điện nhưng hãn hữu ) cũng không sai.</p>
<p>+ Bát nhang tối thiểu có bát nhang thờ Thánh bản mệnh hoặc lô nhang thờ chung Thánh bản mệnh và công đồng chư Thánh. ( và lô nhang hạ ban )</p>
<p>+ Thờ vọng: Nếu làm lễ rước tượng từ đền chính nào đó về điện tại gia là tốt. Nếu không có điều kiện thì chỉ cần bốc bát nhang ghi rõ duệ hiệu công đồng hoặc dị hiệu các vị Thánh cũng không sao.</p>
<p>+ Quy mô và đồ thờ có thể điều chỉnh nâng cấp - mở rộng khang trang hơn khi có điều kiện, thay thế tranh bằng tượng hoặc tượng cũ/tượng nhỏ bằng tượng lớn/ chất lượng tốt hơn...</p>
<p>ĐẶC BIỆT ghi nhớ: Chỉ có thể mở rộng thêm chứ không được quy nhỏ lại (Không cắt bớt đất đang thờ điện/ Không chuyển từ thờ tượng lớn thành thờ tượng nhỏ/ Không chuyển từ thờ tượng sang thờ tranh…). Phải có cửa võng hoặc y môn để che long nhan Thánh tượng .  Ko có thì cũng phải nhiễu điều che long nhan Thánh điện .</p>
<p>+ Bản chất Tranh giấy/ tượng… là hình tướng thờ. Đền điện chỉ cần linh thiêng quy tụ và thanh lọc  được tín ngưỡng lực. Nếu tượng lớn đồ sang mà không tụ được linh thì cũng không có tác dụng gì.</p>
<p>+ vật Trấn diện ( Ấn sắc ....)</p>
<p><strong> Sắp xếp tượng thờ:</strong></p>
<p>- Tùy theo căn cơ thủ nhang – Quy mô đền điện  (đồng thầy của thủ nhang sẽ định hướng cụ thể)</p>
<p>- Tham khảo:</p>
<p>Bên trong điện thờ Tam Tứ phủ  hiện nay thường có 3 ban chính: Ở giữa là ban Tam Tứ phủ công đồng, bên phải của người làm lễ là ban Trần Triều, bên trái là ban Sơn Trang…</p>
<p>Tại ban công đồng, tượng thờ thường được đặt theo cấu trúc bao gồm các lớp như sau: Trên cùng thờ Phật – Tam tòa Thánh Mẫu - . Ngũ vị Tôn ông - tứ phủ chầu bà - tứ phủ ông Hoàng - tứ phủ thánh cô… ( ( Thánh thủ điện thường đặt chính giữa ) làm sao rước thỉnh tượng thờ cho hợp lý để tránh Thánh thủ điện phải thờ sang bên.</p>
<p>Dưới gầm:  ban Công đồng thờ ngũ hổ, quan xà( nếu điện thờ Thánh sơn trang là thánh chính cung)</p>
<p>Các điện khác Thánh Xà vắt ngang trên điện.</p>
<p>Ngoài ra, hai bên công đồng có thể đặt thêm tượng hai cậu bé ở phía dưới. Phía ngoài điện thờ có 1 lầu Cô, 1 lầu Cậu, đôi khi lầu cô, lậu cậu được đặt hai bên cửa phía trong điện thờ. Ngoài sân điện là ban thờ Mẫu cử trùng Thượng Thiên ( Mẫu bán thiên)…</p>
<p><strong> Công việc tại điện thờ</strong></p>
<p>-  Thường nhật:</p>
<p>+   ,Sáng thay hoa chiều lọc nước, Hàng ngày dâng nước, lên hương, sáng thỉnh chuông chiều bái chuông.</p>
<p>+ Luôn phải đủ thiết lễ, xuân thời tứ tiết, ngày rằm mùng một ngày Thánh tiệp chính.</p>
<p>+ Làm việc âm tại bản điện hoặc tại nơi bách gia cậy sở có xin phép chư Thánh tại bản điện…</p>
<p>- Hầu đồng: (Duy trì tín ngưỡng lực)</p>
<p>+ Mỗi vấn hầu có bóng Thánh giáng quy tụ năng lượng tín ngưỡng lực tương đương hàng nghìn người lễ bái hương khói. Để duy trì bản điện linh thiêng và đủ tín ngưỡng lực gia trì cần thiết thực hành nghi lễ hầu đồng (bắt buộc).</p>
<p>+ tuần tiết sáng chuông chiều mộ ,  lập hạ ra hè, đầu năm khai ấn cuối năm quấn cờ ngày tiệp chư Thánh.....</p>
<p>+ Đàn to lễ lớn hay đàn sơ lễ mỏng, mã đại đàn tiểu đàn tùy điều kiện và mục đích khóa lễ nhưng đảm bảo đủ một năm ít nhất hai lần hầu đồng (Đầu năm khai ấn cuối năm quấn cờ), có điều kiện hơn thì tứ kỳ tứ vấn tiệp Thánh thủ điện …</p>
<p>Nhớ rằng:</p>
<p>Vai trò trách nhiệm của thanh đồng trong xã hội vừa là tấm gương trong dân, vừa là điểm tựa tâm linh trong xã hội.</p>
<p>Người lập điện phải phát dương đạo/ giữ truyền thống đạo/ Chưa xét đến lấy danh cho Thánh lấy diện cho đồng nhưng tối thiểu phải làm đúng pháp/ Tu thân tu đạo sao cho không làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đạo Thánh tại nơi lập đền/điện.</p>
<p><strong> Kế thế truyền đăng (giữ tín hương)</strong></p>
<p>Một bản điện phải có con nhang/ đệ tử truyền đạo/ truyền thống đạo (bắt buộc).</p>
<p>- Nối tiếp truyền thừa bản điện: Con cháu/ Họ hàng/ con nhang – đệ tử của thủ nhang hoặc cá nhân/tổ chức (Một số điện tư thủ nhang không có người nối tiếp truyền thừa hiến điện cho nhà nước thành đền công) … được thủ nhang chấp nhận cho phép.</p>
<p>Cá nhân – tổ chức được thủ nhang truyền lại bản điện sẽ tiếp tục thực hiện các công việc tại điện (như đã nêu tại mục F) để duy trì tín hương và gia trì tín ngưỡng lực cho bản điện.</p>
<p>- Giải đáp một số thắc mắc khác</p>
<p>+ tên điện tùy căn cơ hoặc do ứng báo mà đặt.</p>
<p>+  Duy trì hương khói nhưng không nối truyền có được không?</p>
<p>Bản điện sau khi thủ nhang không còn vẫn có người hương khói, thay hoa lọc nước đều đặn nhưng không có người nối truyền (mục G) tiếp tục gia trì ĐỦ tín ngưỡng/nguyện lực thì linh khí không  dần suy giảm.</p>
<p>Lúc này hội đồng gia tiên của thủ nhang chịu trách nhiệm tìm người nối truyền phù hợp. (Nếu đời con không có thì đời cháu/ chắt…), gia tiên sẽ dẫn người trong họ ra đồng và nối tiếp việc thờ phụng. Việc tìm được sớm hay muộn do gia tiên phụ trách.</p>
<p> Còn ko thì thường các vị gia tiên sẽ cho phép con cháu hiến thành đền công ( đa phần các ngôi đền hiện nay đều là điện tư phát triển thành đền công)</p>
<p>Lưu ý: Nếu bản điện chỉ có người thay hoa lọc nước hương khói không có người nối truyền chính thức của thủ nhang (mục G) thì không nên để người khác tự ý hầu hạ tại bản điện, vì người hầu tại điện nếu không có đủ năng lực thỉnh dẫn bóng Thánh thuần khiết thì tín ngưỡng lực về bản điện khó có thể được thanh lọc, dễ gây loạn âm phần và dễ bị vong tà ám tá. (Trừ trường hợp gia đình thủ nhang tiến điện tại gia cho nhà nước trở thành đền công thì việc hầu hạ tại điện lúc này do nhà nước quản lý).</p>
<p> Hoặc phải tìm người uy tín mà gia đình đã biết Hầu khai quang tuần tiết hộ , không thì tứ thời phải nhờ Pháp sư đến cúng khao thỉnh.</p>
<p>+ Giải Đền/Điện khi nào không bị trách phạt:</p>
<ul>
<li>Việc này cực kỳ hãn hữu. Chỉ trong trường hợp thủ nhang làm sai bị phạt và bản điện đã bị tà chiếm thì mới nên giải đền/điện sám hối chư Thánh.</li>
<li>Còn nếu bản điện linh thiêng mà thủ nhang vì lí do nào đó không tiếp tục làm việc được hoặc không tìm được người để cho nối truyền thì vẫn tiếp tục giữ hương khói đến khi gia tiên sắp xếp.</li>
</ul>
<p>Còn nếu giải điện thì họa tới cho cả gia đình chủ  ngôi điện lẫn người giải.</p>
<p>+ Về giải binh/ gửi binh…:</p>
<ul>
<li>Trường hợp bản điện có nuôi binh (lập tĩnh) mà sau không có người tiếp quản/ thủ nhang mất khả năng quản lý thì có thể cậy nhờ thầy pháp (đủ năng lực) tiến hành giải binh hoặc gửi binh tại đền công. Khi bản điện có người nối truyền tự hành sai đền công sẽ hoàn trả binh cho bản điện.</li>
<li>Trường hợp không thể giải binh/ không thể gửi binh thì binh này án tại bản điện. Gia tiên chịu trách nhiệm quản lý. Nếu gia tiên không quản được có thể gây ra rất nhiều phức tạp rối loạn về âm phần tại nơi thờ tự.</li>
</ul>
<p>+ Đền điện có con nhang cái bán mà thầy mất:</p>
<ul>
<li>Đệ tử có thể tự tu không theo thầy khác</li>
<li>Xin nhờ đồng thầy khác kê đệm/đỡ bóng nếu chưa vững bóng hoặc theo đồng thầy khác xin truyền giảng đạo pháp để tiếp tục tu tập/học đạo. Tuy nhiên lễ nghĩa với thầy đạo cũ và chốn tổ cũ vẫn phải vẹn toàn .</li>
</ul>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Một vài kiến thức khi tìm thầy để trình đồng mở phủ</title>
<link>https://tuvidonga.com/tim-thay-mo-phu</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tim-thay-mo-phu</guid>
<description><![CDATA[ Trong các nghi lễ của Đạo Mẫu, lễ trình đồng mở phủ là nghi thức bắt buộc chứng nhận một người ra nhập Đạo Mẫu quy hàng Bốn Phủ cắt tóc làm tôi, nguyện trở thành tôi con cửa Thánh và phụng sự Chư Thánh cửa Đình Thần đến “mãn chiều xế bóng”. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/06/image_380x226_665fe045ce069.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:01:04 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>lưu ý trước khi tìm thầy mở phủ</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Đạo Mẫu Việt Nam, đạo nội thuần Việt và gần gũi nhất với dân tộc. Đạo luôn đề cao truyền thống, truyền thừa, đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Kính”  đặc biệt là thêm phần lễ nghĩa. Hiếu với cha mẹ ông bà gia tiên tiền tổ, Kính là Kính Thánh trọng Thầy. </p>
<p>Lễ phải có nghĩa không quá mù mờ bạ đâu cũng lễ cũng lạy cũng lo lắng đàn tràng rồi nghe sao lễ vậy...<br>Trong các nghi lễ của Đạo Mẫu, lễ trình đồng mở phủ là nghi thức bắt buộc chứng nhận một người ra nhập Đạo Mẫu quy hàng Bốn Phủ cắt tóc làm tôi, nguyện trở thành tôi con cửa Thánh và phụng sự Chư Thánh cửa Đình Thần đến “mãn chiều xế bóng”. Trong nghi thức này không thể thiếu người “đồng thầy”, được xem như  người “tái sinh” (đẻ đồng) cho tân đồng nhập đạo, bước vào cửa tâm linh và tu tập Đạo Thánh. </p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/06/image_750x_665fe045b628e.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="697" height="523"></p>
<p>Nhưng VAI TRÒ của đồng thầy trong Đạo Mẫu có đơn giản là người thực hiện nghi thức trong lễ “trình đồng mở phủ” của đồng nhân hay không ? Và làm sao để TÌM được đúng người thầy mở phủ dẫn đạo cho mình. Viết mấy dòng cho các bạn đọc và tìm hiểu:<br>Đầu tiên phải kể đến :</p>
<h2>1. Vai trò của đồng thầy</h2>
<p><strong>+ Soi căn nối quả:</strong></p>
<p>Đồng thầy Đạo Mẫu làm lễ mở phủ cho người phải là người có khả năng soi căn nối quả, phải soi được căn của con nhang, hiểu đối với từng con nhang ghế ai bóng ai căn cốt ra sao nguồn gốc thế nào cần tu gì? Chưa yên chỗ nào? Cần họa cốt ở đâu (đồng cốt)? Cần cân chỉnh và kêu cầu ở đâu... còn cân chỉnh để đồng con tu tập. Trước là thầy phải  phó úy đúng cung đúng cửa để đồng con thuận việc đạo và đối tâm tu tâm, sau tu ra  bản ngã của chính họ , rồi căn cứ vào đó dậy đạo pháp và cao nhất là dậy họ tu về âm dương về thần hồn chân linh.</p>
<p>Thầy không soi căn nối quả được là vất đi thầy đó là đồng mù .</p>
<p><strong>+ Đỡ bóng:</strong></p>
<p>Đây là vai trò quan trọng bậc nhất và cũng là khó khăn nhất của đồng thầy đối với đồng con. Đặc biệt cấp thiết với đồng tân lính mới. Bởi đồng con sau khi ra đồng vừa mới nhập cửa đạo căn mệnh chưa thực sự an yên, bóng yếu dẫn đến dễ bị oan gia đòi nợ, ma tà quấy phá, thử thách kéo đến dồn dập nhiều khi khiến đồng con suy sụp. Nếu không được đỡ bóng và đồng thầy không có khả năng đỡ bóng cho đồng con thì dễ dẫn đến đồng tân bị cơ, cơ âm cơ dương, ma tà dẫn lối loạn tâm loạn tính và nhiều khi trên canh đàn khóa lễ còn bị vong ma hay oan gia ốp nhập, gây tác động khác khiến canh đàn chẳng thể chu viên hòng phá hoại đường tu vừa mới được khai mở của đồng con.</p>
<p>Sau khi dẫn trình đệ tử, đồng thầy mở phủ có trách nhiệm đỡ bóng cho đồng con chủ yếu trong ba năm đầu hoặc trước khi tạ tam niên. Giai đoạn này là cực nhọc nhất với đồng thầy và cũng là giai đoạn nhạy cảm nhất với đồng con.</p>
<p>Một người mang danh thầy nhận mở phủ cho người nhưng không đỡ bóng được cho đồng con thì xét về lâu dài chỉ làm khổ đồng con.<br>Đôi khi đồng con nghiệp quá nặng thầy còn phải ngăn chặn phân tán nghiệp quả thậm chí có lúc còn tấu đối để tạm thời ghánh bớt cho họ khi đã nhận mở phủ để đỡ đi phần nào nghiệp quả </p>
<p><strong>+Kêu tấu, phó úy, luyện đồng, rèn đồng…</strong></p>
<p>- Đồng thầy là người trực tiếp kêu tấu cho đồng con tại các cung các cửa Đình Thần Nam Việt, cho đồng con được an yên căn mệnh và kêu tấu giúp con đồng khi có việc phát sinh ảnh hưởng đến đường tu và đôi khi là cả cuộc sống của con đồng (Âm phần gia tiên, thờ cúng, sức khỏe , nhân duyên, vận hạn, con cái, công danh…)</p>
<p>- Đồng thầy là người thực hiện lập phó úy gửi về cửa đúng căn mệnh của đồng con. Nếu người thầy không soi căn được chính xác hay đỡ bóng kém thì cũng khó có thể lập được phó úy về đúng cung đúng cửa chuẩn căn mệnh của đồng con. </p>
<p>Sổ phó úy của đồng con hoặc về sai cung hoặc không được cửa nào nhận dẫn đến không được Thánh bản mệnh đỡ cho, căn mệnh không yên thì việc sinh cơ, sinh ảo và tà ma oan gia xô vào khiến đồng con khốn đốn là chuyện thường. </p>
<p>- Lại nói đến khi con đồng đã tạm yên căn mệnh chuẩn bị bước vào giai đoạn luyện đồng, rèn đồng thì đồng thầy là người trực tiếp kêu và xin cho đồng con về các cung cửa để rèn và luyện đồng trình tòa tỏa bóng. </p>
<p>Nên nhớ có những trường hợp cửa Thánh Bản Mệnh trực tiếp luyện đồng, rèn đồng nhưng cũng có trường hợp nơi gửi bản mệnh tại một cửa và nơi rèn đồng luyện đồng tại một cửa khác. Bởi gửi bản mệnh là tùy căn mệnh con đồng nhưng rèn đồng luyện đồng (sau này hành đạo làm việc Thánh) còn phụ thuộc vào nghiệp đạo của con đồng. </p>
<p>Ví dụ: Người căn mệnh số hệ tại cửa cô Bơ nhưng nghiệp soi bói thì phó úy căn mệnh về cửa Cô Bơ nhưng khi rèn đồng hành pháp soi bói thì kêu tấu gửi nơi sơn trang cửa chúa bà (ngả quạt bói)…, người căn mệnh số hệ tại cửa Hoàng Mười nhưng nghiệp đạo kiêm chi phải học pháp và luyện đồng để thành pháp sư trừ tà thì đội lệnh nhà Trần và tấu gửi luyện đồng tại cửa Thượng Từ…</p>
<p>Người thầy có đạo và soi căn nối quả tốt phải thực hiện được những việc trên cho trọn vẹn. </p>
<p>+ Chỉ dạy lề lối hầu hạ phụng sự…, trình khăn áo…, hầu tỏa bóng…</p>
<p>- Đồng thầy là người chỉ cho đồng nhân phép tắc lề lối hầu hạ chuẩn chỉ tùy theo từng dòng đồng. (Thứ tự các giá hầu, nguyên tắc khi hầu với từng giá, phép Hầu xuôi, hầu ngược, hầu Nhà Trần…). </p>
<p>Là người nhắc nhở và cân chỉnh cho đồng con khi đồng con phạm lỗi hầu hạ, hầu sai phép hay hầu hạ vô ý…trong từng canh đàn khóa lễ. Đặc biệt nhất là trong 3 năm đầu đồng nhân. </p>
<p>- Trước kia sau khi mở phủ đồng thầy thường để con đồng tự hầu, chỉ nhắc nhở hoặc cân chỉnh để con đồng không phạm một số lỗi nghiêm trọng như: quay đáy vào ban thờ, tung tiền vào mặt tượng hay chống chuôi đao xuống đất ..vv.vv còn lại để đồng con hầu một cách tự nhiên nhất. Chính là để trong canh đàn đầu tiên người đồng thầy sẽ nhìn ra được căn cơ sâu dày và duyên nghiệp hành đạo sau này của đồng con mà cân chỉnh cả về sổ phó úy, kêu tấu giúp đồng con cho đúng cung đúng cửa. </p>
<p>Ngày nay phương tiện thông tin nhiều, các video hầu hạ và những bài viết về quy tắc hầu hạ cơ bản cũng nhiều nên đa phần đồng con khi mới ra đồng đã có những ấn định trong đầu về nguyên tắc hầu hạ rồi. Nhưng mỗi dòng đồng mỗi khác “mỗi nhà mỗi phép” nên đã theo thầy nào  thì vẫn nên nghe theo những chỉ dẫn của thầy đó và thực hiện theo đúng quy tắc khuôn phép của dòng đồng mà mình theo.</p>
<p>- Trình khăn áo bản mệnh: Đồng thầy trực tiếp dẫn đồng con trình khăn áo bản mệnh để cha biết mặt mẹ biết tên tại các cửa chính như cửa  Phủ Dày cửa Thánh Mẫu Thần Chủ cửa Bát Hải..., Phủ tiên chúa Sơn Trang, cửa Quan lớn cai đầu đồng (Quan lớn đệ Tam), Cửa Khâm Sai, Cửa Thượng Từ (Nếu đồng đội lệnh Nhà Trần)… </p>
<p>Còn các cung cửa khác tùy theo căn cơ đồng con mà đồng thầy trực tiếp dẫn đi hoặc kêu tấu giúp đồng con tại chốn tổ dòng đồng, đồng con sau khi được thầy chấp thuận có thể tự đi lễ và trình khăn áo tại các cung cửa còn lại này. </p>
<p>- Hầu tỏa bóng: Với đồng nhân hoàn thành tạ tam niên được cấp sắc đặt danh đồng nhân thì có thể xin phép thầy đi hầu tỏa bóng tại các cung các cửa, lúc này tùy căn cơ đồng con đồng thầy có thể hầu “dẫn bóng” giúp một số giá, trước là để kêu tấu với cửa hầu tỏa bóng đỡ cho đồng con, sau là giúp đồng con dẫn mã dẫn lễ đến đúng cung trong những lần đầu hầu tỏa bóng còn chưa có kinh nghiệm. </p>
<p>Bởi hầu tại nơi mở phủ hay bản điện đền chốn tổ trong 3 năm đầu thì luôn được các quan hành sai ưu ái cho (bởi là tân đồng và cũng là con cái bản điện), nhưng khi đã đi hầu tỏa bóng nơi xa thì một lỗi sai hay sơ suất hay bóng còn non yếu thì có thể bị bắt lỗi khá nặng. Đồng thầy sẽ hỗ trợ giúp đồng con trong giai đoạn đặc biệt này.</p>
<p><strong>+ Dạy đạo/Dạy pháp – Dẫn đạo</strong></p>
<p>- Dạy đạo/pháp: Đồng thầy là người dạy đạo, khai mở cho đồng con các phép tu từ cơ sở nhất như phép hầu đồng thiền động xóa vết khắc nghiệp, tu đạo hành đạo tích âm đức bồi hoàn cho oan gia và gia tiên… và sau nữa là chỉ dạy những nguyên tắc cơ bản nhất, những pháp những chú và sử dụng các công cụ cần thiết khi ra hành đạo Thánh. </p>
<p>Với đồng Nhà Trần, quan thầy trực tiếp “luyện đồng” cho đồng nhân qua các khóa hầu luyện đồng Nhà Trần (khác với hầu đồng thông thường) để đúc căn mệnh cho đồng nhân (thường là đồng pháp). Song song với chỉ dạy các pháp như cúng bái/ trừ tà/ áp vong/đàn hành đạo… tùy công việc phải làm về sau. <br>-  Dẫn đạo: Bản chất là sự định hướng trên đường đạo chứ không bao giờ là “ép buộc”. Bởi người thầy hiểu rõ căn mệnh của đồng con sẽ có những định hướng phù hợp nhất để đồng con chuyên tâm tu tập, học đạo, học pháp sau này ra làm việc. </p>
<p>Phù hợp nhất tức là nếu đi theo định hướng đó thì có thể sẽ thuận lợi hơn nhiều trên đường tu hoặc đúng căn nghiệp sẽ trả được nghiệp nhanh hơn…<br>Nhưng việc định nghiệp hành đạo sau này còn phụ thuộc phần lớn vào nguyện vọng của đồng con. Bởi tuy căn mệnh và nghiệp mệnh làm 1 việc mà nguyện vọng của đồng con là 1 việc khác (nếu làm tốt vẫn tích được âm đức, giải oan gia, trả nghiệp và bồi phúc gia tiên…) thì đồng thầy cũng không cưỡng ép, chỉ định hướng và đưa ra lời khuyên. Bởi duyên thầy trò trách nhiệm của thầy là dẫn đạo/dạy đạo còn nghiệp đạo của đồng con chỉ có thể do chính đồng con gánh vác và tu tập.</p>
<p>Ví dụ: Đồng con có nghiệp đạo là đồng kêu cầu, đồng thầy sau khi đã phân tích và cũng đã định hướng, đồng con lại nguyện xin làm đồng soi bói hoặc gọi hồn thì khi định nghiệp hành đạo đồng thầy cũng theo căn nguyện của đồng con mà kêu tấu với chư Thánh. Nếu được chấp thuận hay không cũng truyền đạt và đưa lời khuyên, dẫn chỉ hành pháp với đồng con. </p>
<p>Sau khi đã định nghiệp hành đạo theo ý nguyện đồng con thì đồng con phải tích cực học hỏi, trau dồi kiến thức, hành đạo đúng phép, vượt qua khó khăn chướng ngại vì làm việc không hợp căn mệnh gốc và tự chịu trách nhiệm về phúc nghiệp trên con đường hành đạo của mình.  </p>
<p><strong>+ Thân giáo</strong></p>
<p>- Khi mới nhập đạo đã phải luôn ghi nhớ chữ tâm - đức và chữ tòng thuận (lính ghế), người lính là phải theo cấp trên chỉ huy trực tiếp (đồng thầy). <br>Mà học được chữ đức và tòng thuận thì phải qua hành động và cử chỉ hàng ngày của người thầy đồng, đạo nhà Thánh ta gọi là “Thân giáo”. <br>- Thân giáo là tức hành động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị thầy mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo.</p>
<p>Một trăm lần nghe không bằng một lần thấy. Một trăm lần được nghe giảng của các loại đạo các loại kinh về chữ “đức” cũng không bằng một lần thấy hành động nhân đức, khiêm cung, thiện hạnh, từ bi, chân thiện mỹ và cách hành đạo nơi vị thầy của mình.</p>
<p>- Người đồng thầy không tham tiền hám bạc, không điêu toa lừa lọc kiếm chác, không cờ bạc, rượu chè, trai gái hủ hóa ăn uống bê tha, thuốc phiện... không thất nhân ác đức, hám danh cầu lộc tài vô lý, không hầu hạ vô lối vô phép, không lãng phí tiền của tung tiền như giấy, không phân biệt người giàu kẻ nghèo nhờ cậy, chẳng phân biệt con nhang đệ tử sang hay khó… </p>
<p>Kể cả việc đạo, lẫn việc hàng ngày công khóa phụng thờ nhà Thánh, khóa lễ canh đàn chuẩn chỉ, làm việc hành đạo giúp bách gia luôn lấy chữ tâm đạo hàng đầu…</p>
<p>Theo người đồng thầy như vậy ắt sẽ “được ảnh hưởng” tính cách của thầy đồng mình.</p>
<p>Vậy mới có câu: “Trứng rồng lại nở ra rồng”, đại diện cho sự “truyền thừa” và “bản gốc”.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Làm gì khi biết mình có căn đồng số lính</title>
<link>https://tuvidonga.com/lam-gi-khi-biet-minh-co-can-dong-so-linh</link>
<guid>https://tuvidonga.com/lam-gi-khi-biet-minh-co-can-dong-so-linh</guid>
<description><![CDATA[ Nhìn chung người có căn số đa phần tình duyên, công việc, tài lộc, công danh có nhiều phần may mắn hơn người những cũng có những người vô cùng lận đận khổ sở. Đặc biệt là những người căn sâu và có căn đồng âm. Phải đến khi cơ hành bắt sát đến trắng tay người ta mới nghĩ đến chuyện tâm linh. Mới bắt đầu tìm hiểu về tâm linh, tìm về đạo. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/06/image_380x226_665fe6bc2890b.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 20:00:25 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords></media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Những dấu hiệu thường thấy của người có căn số và cũng là những dấu hiệu khi bị hành căn:</p>
<p>+ Cuộc sống, tình duyên, công việc lận đận như có người phá dù có thể là người nỗ lực chăm chỉ và có thể còn rất có tài năng.</p>
<p>+ Tính tình đôi khi đột nhiên nóng nảy, có nhiều sự thay đổi lạ lùng theo khuynh hướng xấu không phải do áp lực đè nén gia đình, công việc…  </p>
<p>+ Lơ ngơ, thơ thẩn, lần thần như một người hoàn toàn khác không làm chủ được suy nghĩ (không mắc tình hình bệnh lý hoặc hồ sơ liên quan đến tâm thần), thỉnh thoảng còn biểu lộ những hành vi của đạo như ca múa không kiểm soát, hành động vô thức như lên đồng, hành động và lời nói vô thức khác lạ có phần tâm linh...</p>
<p>+ Thường xuyên xuất hiện những giấc mơ gặp gỡ “người nào đó” lặp lại nhiều lần nhưng chưa hề quen biết, thậm chí sinh hoạt với cả người âm, bóng đè... Một số còn mơ thấy Phật Thánh, mơ được đi đến những nơi xa lạ, tiên cảnh hay nơi đền phủ, có khi còn mơ mình đang ngồi hoặc đang múa hầu đồng (dù không biết hầu đồng là gì) nhiều hơn. Thậm chí đi âm được học pháp, bay bổng, đi thăm thú nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người…</p>
<p>+ Thỉnh thoảng nghe những lời thì thầm, những lời nói mơ hồ bên tai như muốn xúi giục một điều gì đó. Nhiều người có căn hoặc có năng lực còn giao tiếp nghe hay nhìn thấy hoặc cảm nhận được vong âm nhưng cũng hay được ứng báo nhìn thấy pháp tượng dung nhan Phật Thánh.</p>
<p>+ Những người có căn thì cảm thấy gần gũi và chỉ muốn đến đền chùa ... hoặc nghe hát cúng lễ hay kinh kệ, cảm giác đền chùa như ở nhà, hoặc mơ hoặc được báo thấy như vậy, hoặc mơ được thấy được dậy ấn quyết sắc lệnh, chữ thiên, sắc lệnh hội nguyên hoặc làm việc Thánh,  mơ hạ ban quan lớn khi sát âm….</p>
<p>+ Đôi khi ngủ li bì, không muốn làm gì, cảm thấy yếu ớt, cảm nhận thấy trong người mệt mỏi không có sức sống nhưng khám bệnh không tìm ra nguyên nhân nhưng khi đi lễ đền phủ thường sẽ giảm triệu chứng</p>
<p>+Có thể bị đau nhức nhức một vị trí nào đó trên cơ thể vào buổi tối hoặc đêm nhưng không phải do tình hình bệnh lý bệnh tật gây nên. Người có căn bị hành âm hay bị gia đánh âm cũng có triệu chứng đau thì thường do chống đối hoặc ăn bậy bạ mà ra như thịt chó hoặc làm những việc bẩn thỉu bậy bạ, trong lúc này thường thích ăn chay...</p>
<p>+Trong người thỉnh thoảng cáu bẳn vô cớ giận dỗi vô cớ hoặc thích đập phá, làm một việc gì đó trong vô thức, trong người đột nhiên cảm nhận thấy buồn chán không rõ nguyên nhân nhưng  thường giỏi chịu đựng.</p>
<p>+ Người có căn hay bị đổ oan và đặc biệt những người căn sâu hay bị cô lập và bị mọi người cho là lập dị.</p>
<p>+Người có căn có căn tính hay quên, dù bị ghen ghét hay đôi khi phản bội, làm hại nhưng không có tâm thù oán hại người, thường chỉ chịu đựng vượt qua, hiếm khi để bụng và dễ tha thứ.</p>
<p>+ Người có căn thường hay có linh cảm được việc sắp tới và thường may mắn đột xuất (có nhà Thánh phù trợ).</p>
<p>+ Người có căn thì làm việc rất khéo léo và bền bỉ, làm việc rất nỗ lực và có tâm nhưng hay đổ vỡ không thành công..</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/06/image_750x_665fe6bc183db.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;"></p>
<p>Nhìn chung người có căn số đa phần tình duyên, công việc, tài lộc, công danh có nhiều phần may mắn hơn người những cũng có những người vô cùng lận đận khổ sở. Đặc biệt là những người căn sâu và có căn đồng âm. Phải đến khi cơ hành bắt sát đến trắng tay người ta mới nghĩ đến chuyện tâm linh. Mới bắt đầu tìm hiểu về tâm linh, tìm về đạo. Thực ra, nếu cuộc sống các bạn quá sung túc, suôn sẻ thì các bạn có nghĩ đến những chuyện tâm linh hay tìm hiểu về căn số hay không?</p>
<p>Những hành căn ấy trước tiên đến bởi oan gia trái chủ của bản thân, gia đình và gia tiên nhiều đời của người có căn, sau nữa bởi chính gia tiên người căn số muốn thúc giục con cháu để con cháu biết đến tâm linh, biết mình có căn mà tìm về tu đạo. Bởi người có căn số khi ra trình đồng cắt tóc làm tôi nối đời làm con phụng sự cửa Đình Thần thì tức là đã được Thánh Thần gia hộ. Gia hộ ở đây không phải là không ai làm được gì, mà là Nhà Thánh đứng ra bảo trợ để những oan gia nhiều kiếp của người căn số và gia tiên tiền tổ có đòi nợ cũng đòi dần dần, và dùng chính năng lượng bóng Thánh khi đồng nhân hầu thánh, dùng chính phúc phần tích được khi hành đạo Thánh để trả cho oan gia, đồng thời tích phúc giải nghiệp cho gia tiên.</p>
<p>Hơn nữa, nếu có con cháu được theo hầu cửa Đình Thần thì gia tiên cũng được ân chiêm Thánh đức mà được cửa Đình Thần tu tập ở phần âm. Vậy mới có câu ngày xưa các cụ hay bảo con cháu rằng: “ Con ra đồng gánh nghiệp cho cả họ” là vì vậy.</p>
<p>Một mặt khác, những cơ hành bắt sát có thể do ma tà quấy phá, bởi người có căn số trong mình có năng lượng đặc biệt khác người, ma tà rất muốn chiếm được nguồn năng lượng này, nên cơ hành cho người căn số điên điên dại dại hoặc dẫn mê để người có căn tìm đến sai thầy, đi sai đường tu và gây ra những mộng ảo hoặc ban cho ít năng lực dị năng cấp thấp, ban cho ít tài lộc hoặc giả ứng báo kêu lập điện soi bói để chúng lợi dụng và biến người căn số thành nô lệ làm việc cho chúng.</p>
<p><strong>Người có căn số cần thực sự tỉnh táo. Tìm hiểu đạo, tìm thầy không được vội vã.</strong></p>
<p>Trước tiên hãy năng thắp hương xin gia tiên bà cô tổ dẫn lối chỉ đường, gia hộ cho tìm được thầy gặp được bạn đạo, gia hộ cho đỡ bị cơ hành, có kinh tế sớm ra trình đồng cửa cha cửa mẹ.</p>
<p>Sau nữa cần tìm hiểu về đạo và hiểu rõ thế nào là căn số, thế nào là ghế, bóng thánh, hay ai phải trình đồng, ai không. Tránh tuyệt đối nghe những câu như: Có căn số phải ra trình đồng ngay được lộc lắm, hay không ra ngay thì đen đủi lận đận cả đời, hay cứ vay tiền ra đồng đi rồi Thánh lại cho… Rất nhiều cách để các thầy tà thầy lừa lôi kéo dụ dỗ người căn số.</p>
<p>Thế là có những người không tỉnh táo nghe theo thầy lừa là chạy đôn chạy đáo, vay nóng vay nguội ra vài chục triệu, trăm triệu mà ra trình đồng mở phủ, tung tiền rồi ganh đua hầu to hầu đẹp mà không biết cách tu tập trả nợ oan gia, sám báo gia tiên thì cuộc sống cũng chả khá hơn, có khi làm không đúng, mở phủ lỗi, mở sai hoặc tấu đối không đúng cung đúng cửa, hầu hạ không đúng phép tắc còn bị lỗi đồng, bị phạt căn hoặc loạn bóng loạn đồng. Âm dương đảo lộn, ốp nhập liên miên, mộng mị, ảo giác, cuộc sống áp lực khó khăn, gia đình tan vỡ… lúc đó còn khổ hơn.</p>
<p><strong>Nên biết rằng không phải ai có căn số cũng phải ra trình đồng.</strong></p>
<p>+ Với những người có căn nông: Hãy tự tu tâm dưỡng tánh, làm lành, tránh dữ, tin sâu nhân quả, kinh kệ mỗi ngày để an yên tâm tính. Chăm lo phụng sự hương khói gia tiên tiền tổ, phụng hiếu cha mẹ người thân, năng làm việc tốt tạo phúc cho đời.  Nên nhớ, trước là tu nhà, sau tu chợ rồi mới đến tu chùa. Nếu bị cơ hành có thể tấu đối nơi gia tiên và tìm thầy làm lễ tôn nhang bản mệnh cho yên mệnh. Ngày rằm mùng 1 năng đến nơi chốn tổ và đền phủ cầu xin chư Thánh gia hộ cho bản mệnh yên ổn, cuộc sống dần dần tốt đẹp.</p>
<p>+ Đối với trường hợp căn cao số nặng cơ hành bắt sát không thể đừng mới phải cầu Thầy cứu giúp, soi căn nối quả và làm lễ trình đồng, nhất tâm cắt tóc làm tôi phụng sự cửa đình thần.</p>
<p>Hãy nhớ rằng: Lễ trình đồng là nghi lễ xin nhập đạo, trở thành tân đồng theo đạo Thánh. Hầu đồng là phép tu cơ sở của người có đồng nhưng đó không phải là tất cả. Đã vào đạo là hầu Thánh phụng sự cửa Thánh cả đời, tu đạo Thánh cả đời chứ không phải ngày một ngày hai hay chỉ một khóa mở phủ là xong.</p>
<p>Đã vào đạo là phải tu, để hiểu đạo và biết rằng bản thân có trách nhiệm trả nợ oan gia, sám báo gia tiên, vậy cách nào để trả nợ oan gia, cách nào để sám báo hồng ân gia tiên sau khi đã trờ thành con đồng. Hãy năng tìm hiểu đạo, học hỏi thầy đạo để biết và để thực hành.</p>
<p>Đến khi đã cơ bản hiểu đạo và phép tu cơ sở, khi đã qua bước thử lính sẽ được cấp sắc luyện lính lọc đồng, rồi tùy căn cơ sẽ được ân duyên hành đạo Thánh.</p>
<p>Nếu sau này căn số phải lập điện lập đền phụng sự nhà Thánh thì cũng tùy điều kiện hoàn cảnh mà thu xếp cho phù hợp. Thường người ra đồng có kiến thức đạo cơ sở và đã có thời gian tu tập, hành đạo nhất định, đã nắm rõ những quy tắc cơ bản trong phụng sự hầu hạ, và được đồng thầy cho phép mới ra lập điện, đền riêng để tối ngày hương khói phụng sự. Không nên quá đà, xa hoa hoặc quá mức khả năng của mình hoặc vội vã vừa ra đồng đã chăm chăm lập điện mở phủ khi bản thân chưa đủ năng lực gia trì tín ngưỡng cho bản điện, kiến thức đạo và hành đạo còn non kém.</p>
<p>Việc những người căn số có năng lực dị  năng  như soi bói gọi gồn, cảm âm hay áp vong… vội vã muốn ra trình đồng rồi lập điện hoặc vội vã hành đạo soi xét cho bách gia như vậy chỉ có hại chứ không có lợi cho đường tu của con đồng, có khi còn rước nghiệp vào thân nếu hành đạo sai phép và dễ bị ma tà ám tá, “Thánh tha ma nhập”.</p>
<p>Tu đạo Thánh là tu cả đời, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm. Hãy bước chậm, từng bước từng bước một nhưng chắc chắn, nhất tâm nơi cửa Thánh, toàn tâm trên theo Thánh dưới theo thầy chăm chỉ nỗ lực tu đạo học đạo hành đạo đúng phép thì ắt có tiến tu.</p>
<p>Người có căn số hãy đọc và hiểu rõ những điều trên trước khi quyết định ra mở phủ hay không và khi nào nên trình đồng, khi nào nên hành đạo hay lập đền lập điện thờ phụng.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Bùa Ngải là gì, nguyên lý và cách hoa giải</title>
<link>https://tuvidonga.com/bua-ngai</link>
<guid>https://tuvidonga.com/bua-ngai</guid>
<description><![CDATA[ Bùa ngải từ xưa đến nay ai cũng đã từng nghe qua và hiểu được sự nguy hiểm của nó. Một khi đã bị bùa ngải thì thực sự khó giải quyết, tâm lý hoang mang lo sợ bao chùm, nó như một vấn đề nan giải với hầu hết mọi người, ngay kể cả thầy Pháp cao tay cũng phải khiếp sợ. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_380x226_6688b1ec8f221.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 19:59:44 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>bùa ngải</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Bùa ngải từ xưa đến nay ai cũng đã từng nghe qua và hiểu được sự nguy hiểm của nó. Một khi đã bị bùa ngải thì thực sự khó giải quyết, tâm lý hoang mang lo sợ bao chùm, nó như một vấn đề nan giải với hầu hết mọi người, ngay kể cả thầy Pháp cao tay cũng phải khiếp sợ. Có lẽ là sự kỳ bí không ai truyền ra ngoài, kèm theo đó là những vấn đề hết sức tâm linh khó hiểu và thực tế nó tác động quá lớn, thông tin về bùa ngải thì rất ít vì thế mà ai cũng thấy sợ khi nghe thấy hai từ bùa ngải.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_6688b1ec74d6f.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="691" height="518"></p>
<h2>I. Về Bùa Ngải</h2>
<p>Bùa, ngải(chài/yểm/ếm) là từ nói chung ý chỉ một loại đối tượng có thể mang lại sức mạnh, may mắn, bảo vệ hoặc phục vụ mục đích nào khác cho người sở hữu hoặc sử dụng: Bùa/ngải cầu tài, trừ tà, bùa yêu, ngải yêu</p>
<p>Bùa ngải thường được tạo từ các loại thảo mộc, đá quý , động vật.... thậm chí cả máu người... hoặc các thành phần khác có liên quan đến môi trường tự nhiên.</p>
<p>Về cơ bản bùa ngải không phải loại nào cũng xấu ví như bùa trừ tà, bùa cầu tài lộc, bùa trấn trạch, bùa áp vong...</p>
<p>Chỉ xấu khi người ta sử dụng với mục đích xấu, dùng các pháp hại người chế lên bùa ngải đó.</p>
<p>Bài viết này đề cập chủ yếu về bùa ngải hại người.</p>
<h3>1. Bùa/ngải giống và khác nhau</h3>
<p><strong>Giống nhau</strong></p>
<p>Người luyện bùa/ngải cần có:</p>
<p>- Pháp lực nội tại/ lệnh pháp tổ để luyện bùa ngải trong khoảng thời gian nhất định (từ vài giờ đến vài ngày, lâu nhất khoảng 49 ngày).</p>
<p>- Một số loại bùa ngải cần có thêm 1 số thứ của người bị bỏ bùa/ngải/yếm...:</p>
<p>+ Họ, tên, bát tự (giờ+ngày+tháng+năm sinh)</p>
<p>+ Tóc, móng tay hoặc quần áo, vật dụng thường dùng...</p>
<p>- Một số loại bùa ngải chỉ cần có tên, hoặc ảnh khuôn mặt của người bị bùa và khi gọi tên thì người đó trả lời...</p>
<p>- Các phụ chất làm xúc tác cho quá trình luyện bùa/ngải như chất tụ thần, máu động vật, thảo dược khác...</p>
<p><strong>Khác nhau:</strong></p>
<ul>
<li><strong>BÙA:</strong></li>
</ul>
<p>Hình thức là dùng cách thức vẽ, thư hương lên chất liệu giấy, lá cây, vải hoặc một số chất liệu khác.</p>
<p>Các bùa này muốn có linh ứng cần được họa bằng các sắc lệnh riêng cho từng loại và gia trì bằng PHÁP và CHÚ riêng biệt cho từng loại bùa.</p>
<p>Nhìn chung, bùa được VẼ và LUYỆN bằng chú và pháp lực từ người luyện chú.</p>
<ul>
<li><strong>NGẢI:</strong></li>
</ul>
<p>Hình thức là dùng cách thức NUÔI một sinh vật sống (cây cối/ con vật...) trong một thời gian kết hợp với bùa, chú và pháp lực để luyện.</p>
<p>Thức ăn để nuôi ngải khá đặc biệt và tùy thuộc vào mục đích tính chất của ngải: Trứng gà vịt, máu động vật, máu n.g.ư.ờ.i,...</p>
<p>Thường việc nuôi ngải và cho ăn sẽ cố định một giờ giấc nhất định.</p>
<p>Các bùa và chú được dùng khi nuôi ngải mục đích để luyện ngải, tức là mặc định ngải sẽ nghe lời và làm theo đúng việc, tập trung vào đúng mục tiêu mà người luyện ngại muốn tác động.</p>
<p>Ngải sau khi được NUÔI và được luyện đủ tầm sẽ được THU HOẠCH và sử dụng. Một số loại được sấy khô, nghiền tán thành bột và dùng cho người dùng ngải uống, một số chỉ đơn giản là đốt cháy... cùng bới bùa chú và thông tin của người cần đặt ngải...</p>
<p>Ngải cũng có tốt có xấu. Có ngải hại người, yểm người, khiến người ta ốm đau bệnh tật nhưng ngược lại cũng có ngải cứu người (thuốc).</p>
<p>Người luyện ngải đặc biệt là ngải đen (mục đích xấu) phải có pháp lực cao và rất cẩn trọng bởi ngải là sinh vật sống được NUÔI LUYỆN, nếu không luyện được thì dễ bị phản lại và người nuôi phải chịu.</p>
<p>Bù lại, tác dụng của ngải khi đã dùng thì đa phần là rất mạnh.</p>
<h3>2. Các cách sử dụng BÙA/NGẢI:</h3>
<p>+ Đặt bùa ngải tại nơi ở của người bị yểm (dán/ đặt/để trong hoặc ngoài nhà, chôn dưới đất, trước cửa, cạnh nhà, góc tường... hoặc trong khu đất)</p>
<p>+ Đặt bùa/ngải ở nơi tâm linh để thường xuyên tụng chú gia trì đến khi xong việc</p>
<p>( Một số phép hại người dùng kim châm, tác động khác lên hình nhân (có bát tự người bị hại kèm bột hoặc pháp tụ thần) trong 49 ngày để hại ch ết người từ xa).</p>
<p>+ Đốt bùa ngải kèm lời chú nguyện và gọi tên người bị yểm</p>
<p>+ Đốt bùa ngải và để người muốn đánh bùa/ngải ăn hoặc uống hoặc chạm vào...</p>
<p>Thậm chí có phép dùng bùa yêu của 1 số dân tộc như dùng 2 con vật trung thủy đến chết ( 1 con chết con này bỏ ăn đứng cạnh con kia đến chết ) họ móc tim luyện bùa yêu cho 1 người nào đó uống thì người kia sẽ ko bao giờ ròi xa người còn lại .....</p>
<p>Nói trung nhiều cách làm tà phù tà pháp lắm kể ko hết.</p>
<h2>II. Dấu hiệu bị bùa ngải (yếm/chài...)</h2>
<p><strong>1. Tự cảm nhận</strong></p>
<p>- Thần sắc thất thần, da dẻ nhợt nhạt dương khí cạn kiệt...</p>
<p>- Có những dấu hiệu bất thường trên cơ thể, chẳng hạn như những vết bầm tím, sưng tấy, hoặc những vết đốt kỳ lạ.</p>
<p>- Thường xuyên cảm giác đau đớn ê ẩm cơ thể, cơn đau chủ yếu nằm ở đầu, đau dữ dội như có ai đang đánh mình hoặc châm kim lên người</p>
<p>- Cảm thấy mệt mỏi, suy nhược, không có sức lực, không muốn làm gì, mất ngủ, ăn uống kém và thường xuyên cảm thấy buồn chán, chán nản.</p>
<p>- Ngủ li bì liên tục cả ngày và kéo dài nhiều ngày, mỗi khi tỉnh dậy cơ thể vô cùng uể oải</p>
<p>- Thường xuyên gặp nhiều xui xẻo, gặp tai nạn, hoặc gặp những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, thất nghiệp, kinh doanh thua lỗ, gia đình bất hòa, hoặc gặp những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.</p>
<p>- Người bị yểm bùa thường có tâm trạng bất ổn, dễ cáu gắt, hay ghen tuông. Họ có thể trở nên nóng nảy, khó kiểm soát cảm xúc, và thường xuyên cãi vã với người khác.</p>
<p>- Có những suy nghĩ, hành vi kỳ lạ, không giống như bản thân mình. Tự nhiên trở nên thích làm những việc mà trước đây họ không thích, hoặc ghét làm những việc mà trước đây họ thích.</p>
<p>- Bị đau ở một số vị trí cụ thể dù không va chạm hay ngã ở đâu, cũng không có vết bầm tím, chẳng hạn như vùng đầu, cổ, vai, gáy, hoặc lưng.</p>
<p>- Một số thường xuyên mơ mộng, thậm chí nhìn thấy ma quỷ, sinh ảo giác, sợ hãi...</p>
<p>- Cảm thấy bị theo dõi, ám ảnh như có một ai đó đang ở bên cạnh mình hoặc đang nhìn mình.</p>
<p><strong>2. Dùng phép thử</strong></p>
<p>- Sử dụng trứng gà: Sử dụng trứng gà luộc chín, sau đó lăn trên người và quan sát qua màu sắc của lòng đỏ. Nếu màu đen, là đang bị nhiễm bùa.</p>
<p>- Sử dụng đậu nành và đậu đen: Chấm một ít đậu nành hoặc đậu đen, nếu cảm thấy có mùi tanh tức là đang bị dính ngải. Càng nồng, càng chứng tỏ nặng.</p>
<p>- Sử dụng nước cam thảo:   Ngậm cam thảo. Nếu ngay lập tức nôn ra nước cam thảo, dễ là đã trúng độc bùa ngải.</p>
<p>- Dùng vài giọt máu người tu đạo nhỏ vào miệng nếu nôn ra ngay và hồng hào lại là trúng bùa còn trúng ngải mặt xám xịt lại ngay và không nôn.</p>
<p>- Gặp thầy cao tay soi xét xem có phải bị bùa/ngải không</p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><em><strong>LƯU Ý:</strong> </em></span>Bị yểm bùa ngải, chài, ếm... khác với bị RỦA: Dấu hiệu tự cảm nhận có thể gần giống như nhau nhưng dùng các phép thử không hiện ra.</p>
<p>Chỉ có các pháp sư cao tay mới nhận biết được bằng soi bói, và cách thức hóa giải cũng khác với người bị bùa ngải.</p>
<p>Bùa ngoài ra còn các cách dùng như trấn thiếp yểm hóa chốn đi..,,,,,</p>
<h2>III. Cách hóa giải bùa ngải</h2>
<ul>
<li>Nếu biết người đánh bùa/ngải mình và giờ họ luyện chú gia trì cho bùa...: thì.... phá rất dễ ( ko truyền gia ngoài )</li>
<li>Thường thì giờ luyện bùa vào khoảng 7 h tối , 12 h đêm , 3 h 30 sáng ( chỉ lưu hành trong nhà ko lưu hành ra ngoài)</li>
<li>Hóa giải thân thiện 1 Lập kết giới phá tà ,2 rắc huỳnh hoàng máu chó đen máu đàn bà có tội quanh nhà 3 rắc thần xa huỳnh hoàng chu xa và bột can khương quanh nhà.</li>
</ul>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_6688b3ca49632.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="691" height="518"></p>
<p style="text-align: center;"><em>Hình ảnh mang tính chất minh họa</em></p>
<p><strong>Đối kháng</strong></p>
<p>Chân họa tứ tung ngũ hành 2 tay hoạ Hư không 2 lệnh Cửu Long thuận nghịch cùng các câu trú đi kèm thầy đã dậy .</p>
<p>1. Lấy cung tên buộc phù phá tà pháp vào đầu mũi tên đứng trước cửa đốt họa mũi tên theo lệnh tốc tốc và bắn 4 phía nhà tính từ cửa</p>
<p>Miệng đọc thiên cấm tra địa cấm tra nhân cấm tra phản pháp tốc tốc .</p>
<p><strong>Cách nữa : </strong>lập kết giới phá tà hộ thân trước cửa</p>
<p>Lập dàn chuẩn bị Lư hương kiếm lệnh , 5 tờ phù thần thông lực sỹ , hương nến thần xa chu sa Huỳnh hoàng và đỗ đen đỗ xanh gạo nếp</p>
<p>Hành pháp đúng giờ lập vị hấp thiên cương thu địa sát khởi thất tinh tay bắt 2 ấn tả hữu đàn trấn , bắt dương lôi chỉ , tổ sư ấn , hợp kim cang , âm xạ tiễn rồi phóng phù thiên tiên lực sỹ tát đậu thành binh đối kháng . Các câu trú theo đường hành và ấn chuyển.</p>
<p>2. Dành cho những người có đồng</p>
<p>Chuẩn bị gạo muối nếu có tàn nhang của đền phủ càng tốt lấy 1 con gà sống hoa đúng giờ đó mang ra cửa cắt mào cho chẩy máu thành 1 vũng trước cửa lấy gạo muối hắt ra và có tàn nhang của nhà Thánh vung theo chân họa tốc nghịch lệnh mồm đọc trú : phá hắc pháp tất phản đoạn tuyệt đọc tiếp  thánh từ chứng giám hắc pháp lai lâm đệ tử đối kháng quỷ thần hai vai chư Thánh chứng giám chính phản tắc hoàn hắc pháp tất diệt tà pháp tất phá phá cấp cấp như luận lệnh .</p>
<p> hoặc 7 ngày mỗi ngày 1 trúng vịt lộn , đập ra thay máu gà</p>
<p>hoặc lấy máu chó đen cũng làm như vậy.</p>
<ul>
<li>Nếu khách dính bùa ngải hại mình mà không muốn nhờ thầy pháp làm bùa giải phù ( nhà mình có bùa chuyên phá hắc pháp giải phù)</li>
<li>Thì mấy con đông khuyên họ làm như sau</li>
</ul>
<p>Dùng máu nước ối  bà đẻ thấm giấy bản để dưới chiếu khi ngủ</p>
<p>- Dùng hùng hoàng, tỏi và cây thạch xương bồ pha vào nước uống</p>
<p>- Dùng trứng gà luộc để hút tà khí ra khỏi cơ thể. Đến khi lòng đỏ không đổi màu, có nghĩa là đã giải quyết thành công.</p>
<p>- Đến nhà hộ sinh và lưu lại trong phòng đẻ khoảng nửa ngày để lấy hơi ẩm, mùi hương và máu của nhà thương.</p>
<p>- Tắm bằng nước tỏi hoặc nước lá dâu để thanh tẩy cơ thể, xua đuổi tà ma không xả lại nước khác, lặp lại 3 -5 ngày</p>
<p>Gừng tỏi giã xoa quanh người ngày 2 lần sáng tối ( cách này hiệu quả nhưng khó chịu )</p>
<p>Đung nước gừng tỏi cả ngải cứu tắm</p>
<p>Đun nước nặc hà tỏi xả lá tre gai Bồ kết hương nhu mùi già gừng xông tắm uống</p>
<p>- Xông bằng lá ngải cứu: Lá ngải cứu là một loại cây có tính sát khuẩn cao, được cho là có thể xua đuổi tà ma, trừ tà.</p>
<p>Xông người bằng lá ngải và xông xung quanh nhà nếu cảm thấy âm khí nhà quá nặng nề.</p>
<p>- Dùng nước muối lau chùi nhà cửa để giúp hóa giải bùa ngải.</p>
<p>- Phân ngỗng: Phân ngỗng khô cũng có tính âm mạnh, có tác dụng trừ bùa ngải. Người ta thường đốt phân ngỗng để xua đuổi tà ma, giải bùa ngải</p>
<p>- Nhờ sự giúp đỡ của thầy cao tay : Đây là cách tốt nhất và cũng nhanh nhất để vừa phát hiện xem mình có bị yểm bùa ngải hay không và giải quyết dứt điểm việc bị bùa ngải.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>12 dấu hiệu bị duyên âm theo đuổi</title>
<link>https://tuvidonga.com/dau-hieu-duyen-am</link>
<guid>https://tuvidonga.com/dau-hieu-duyen-am</guid>
<description><![CDATA[ Duyên âm không còn xa lạ với nhiều người, với những người vô thần thì bài viết này không dành cho bạn, chỉ những người trong cuộc mới hiểu được rõ, tuy nhiên bạn vẫn khó có thể nhận ra, dưới đây sẽ là những dấu hiệu cho thấy bạn bị duyên âm, càng nhiều dấu hiệu thì càng chắc chắn hơn. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_380x226_669fb742b1ee5.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 19:57:15 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>dấu hiệu bị duyên âm</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Duyên âm không còn xa lạ với nhiều người, với những người vô thần thì bài viết này không dành cho bạn, chỉ những người trong cuộc mới hiểu được rõ, tuy nhiên bạn vẫn khó có thể nhận ra, dưới đây sẽ là những dấu hiệu cho thấy bạn bị duyên âm, càng nhiều dấu hiệu thì càng chắc chắn hơn.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_669fb74298e97.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="720" height="480"></p>
<h3>1. Không muốn yêu ai và không ai yêu</h3>
<p><strong>+ Với nữ:</strong></p>
<p>Trong mắt bạn bè, người thân, họ là những kẻ ế bằng thực lực.</p>
<p>Không hẳn là bởi ngoại hình, tính cách hay gia cảnh hay bất cứ cái gì khác mà trước tiên chính là bản thân họ tự nghĩ rằng: 1 mình cũng chả chết được. Hơn nữa lại vô cùng thoải mái  trong mắt người ngoài thì khác nào vô duyên nào số nó thế nào ma nó dữ người..... ???!!!</p>
<p>Họ luôn cho rằng không có người yêu đỡ phiền phức, lo lắng và N thứ linh tinh KHÔNG CẦN THIẾT KHÁC. Họ QUYẾT TÂM dành trọn năng lượng, nhiệt huyết cho những việc có ích cho xã hội hơn như ăn, ngủ, xem ti vi, du lịch… và đôi khi là bận làm việc nhưng đến tối về lại hay mơ mộng một hoàng tử nào đó cứu vớt.</p>
<p>Chung quy lại là không muốn yêu, không cần yêu, ta có thể sống hiên ngang giữa đời mà không cần một anh/cô người yêu bên cạnh làm gì cho mệt nếu nghĩ đến phái khác giới phải như trong mơ cơ.</p>
<p> Hoặc có người bình thường thì rất hào hứng nào nhờ người giấy thiệu làm quen .... nhưng cứ hễ gặp bất cứ ai trong đầu lại hiện lên lý do chốn tránh và chán .</p>
<p>là tự kiêu hay ngại va trạm và rất thu mình khi nói chuyện va chạm tình cảm với người khác giới, nhưng cũng, có thể đây chính là dấu hiệu đầu tiên của việc bị duyên âm theo đuổi.</p>
<p><strong>+ Với nam:</strong></p>
<p>Ngược lại. Có người lắm mối tối lại nằm không. Ai giới thiệu cho người khác giới cũng bị cản, mặc dù nhìn cũng dáng dấp khôi ngô tuấn tú không đến nỗi nào, có khi còn rất ga lăng và có người còn có duyên ăn nói nữa cơ.</p>
<p>Hỏi ra mới biết trong mắt đối phương luôn e dè người này là kẻ đa tình, khó tin tưởng…, dù chỉ là làm quen hay yêu ai cũng không quá vài buổi là đối phương bỏ chạy.</p>
<p>Cũng luôn có những trường hợp cả nam lẫn nữ bị người khác giới khi mới quen hay khi có chút nảy nở tình cảm thì bị đánh giá là đa tình hay là kẻ không chung thủy, mặc dù có bạn từ nhỏ đến lớn đã nhiều mùa khoai sọ và chứng cá nhưng CHƯA từng một lần được cầm tay ai!!!</p>
<h3>2. Tình cảm như có người phá</h3>
<p>Đã có người yêu hay thậm chí có gia đình. Tình cảm bình thường rất tốt nhưng rồi không tiến đến hôn nhân hoặc đã kết hôn nhưng có lúc bỗng nhiều lúc cảm thấy khó chịu, không hạnh phúc dù đã cố gắng vun đắp tình cảm gia đình.</p>
<p>Đôi khi bị cảm giác ghét bỏ người mình đang yêu, vợ/chồng mình mà không rõ lí do, chỉ muốn chia tay và sớm chấm dứt tình trạng hiện tại.</p>
<p>Có khi đối phương chỉ gây những lời nói/hành động nhỏ cũng khiến bản thân không vừa ý, khiến bản thân cáu giận gây cãi vã. Nhưng khi bình tĩnh lại thì lại thấy sự việc không đến nỗi phải gay gắt như thế.</p>
<p>Nhiều trường hợp duyên âm tác động khiến cho người ta chán ghét cuộc sống hiện tại, muốn từ bỏ người ở bên cạnh mình là người yêu hay là vợ chồng để đi tìm cảm giác tự do 1 mình (chứ không hề có ý định tìm người mới).</p>
<p>Có khi duyên âm còn gây ra những giấc mộng ảo, tác động tâm lý khiến cho người yêu, vợ chồng sinh nghi ngờ đối phương, thậm chí tự ảo tưởng đối phương đang lừa dối hay không xứng đáng với mình.</p>
<p>Lâu dần sinh cảm giác chán nản, không muốn vun đắp cho cuộc tình/cuộc hôn nhân này nữa.</p>
<p>Việc này kéo dài mà không được chia sẻ, thấu hiểu của đối phương hoặc không tìm cách tháo gỡ sẽ gây ra tâm lý buông bỏ hoặc chạy trốn. Chung quy là để người trần không còn mối quan hệ yêu đương/ vợ chồng với ai nữa.</p>
<h3>3. Tính khí nóng nảy, gắt gỏng bất chợt</h3>
<p>Theo một cách “rất tự nhiên” bạn cảm thấy vô cùng khó ở.</p>
<p>Sự khó ở này không thường xuyên và cũng không phải là với ai bạn cũng vậy.</p>
<p>Đa phần là khi bình thường bạn ít khi bị cảm giác khó chịu này, và cũng cảm thấy cuộc sống khá dễ chịu. Nhưng khi gặp hoặc nói chuyện với một đối tượng nào đó thì bạn lại trở nên khó chịu, nóng tính thậm chí hơi khó ưa.</p>
<p>Bạn như bị đặt ở trạng thái bom hẹn giờ, sẵn sàng cau mặt với bất kỳ ai, đương nhiên là chả có lý do gì gọi là chính đáng cả.</p>
<p>Sau những lúc đó bạn lại trở về trạng thái bình thường, đôi khi không hiểu tại sao mình lại như vậy.</p>
<p>Đây rất có thể là do âm tác động để cho đối phương nghĩ bạn là chảnh chó, chứ thực ra bạn lại là người dễ sống. Thậm chí có người bị duyên âm tác động chỉ thích thu mình không muốn tiếp xúc với ai, đặc biệt dị ứng với người khác giới để bạn bè cho rằng lập dị, khó gần.</p>
<h3>4. Yêu hay không yêu? Đó là vấn đề</h3>
<p>Đêm hôm,  nằm dài ngẫm ngợi về cuộc đời bạn bỗng thấy tình yêu cũng thú vị đấy chứ. Hay cứ thử yêu xem nhỉ, có người yêu quan tâm chăm sóc cũng tốt đấy chứ, bạn cũng nên nghĩ tới tương lai hay điều gì đó ổn định…bla…bla...</p>
<p>OK chốt, MAI BẮT ĐẦU YÊU.</p>
<p>Sáng ngủ dậy thấy cuộc đời vẫn đẹp, phim vẫn hay còn yêu thì thôi, chả cần nữa, ở một mình cho sướng???!!!</p>
<p>Những người có duyên âm thường lười tiếp xúc với người khác giới và nhìn thấy ai cũng không có ý tiến xa hơn. Thậm chí còn chán ghét với những người khác giới dù bề ngoài, nhan sắc hay tài năng của người kia không hề tệ. Ví như một người rất đẹp trai, ăn nói lưu loát trong mắt bạn lại không hề đẹp thậm chí nói nhiều vô duyên, một idol được đông đảo người hâm mộ qua mắt nhìn của bạn lại vô cùng tầm thường thậm chí có phần ẻo dẹo…</p>
<p>Nhiều người trong lòng luôn có một hình bóng mơ hồ của một đối phương lý tưởng nào đó giống như không phải ở thực tại. Đây là do âm tác động nên nhìn thấy ai cũng không có cảm tình không vừa mắt...</p>
<h3>5. Người yêu từ trong giấc mơ</h3>
<p>Trong giấc mộng (có thể lặp đi lặp lại nhiều lần) thấy có NGƯỜI LẠ yêu mình và có đôi khi mình cũng quấn quít người ta (thậm chí còn làm một số việc abc khác).</p>
<p>Đa phần các giấc mơ đều chỉ hình dung dáng vóc chứ không thấy mặt hay giống như chỉ nhìn ở 1 góc quay nào đó để thấy được ánh mắt, nụ cười, hay một bộ phận nào đó khác chứ ít khi thấy tất cả.</p>
<p>Nếu may mắn thì đó có thể là một gương mặt của hot boy, hot girl, thân hình vạm vỡ hay quyến rũ, giọng nói nhẹ nhàng ấm áp…</p>
<p>Nếu không may thì đôi khi người yêu trong mơ xuất hiện dưới dáng dấp bóng đen bí ẩn, nghe giọng đoán hình thậm chí chỉ là tiếng thì thầm gọi tên ...</p>
<p>Đặc biệt những người bị duyên âm thường hay cảm giác có ai đang theo dõi hay bên cạnh mình. Trong các giấc mộng với người khác giới này nhiều khi là bị bóng đè, khi thức dậy tâm thần bị hoảng loạn và cơ thể mệt mỏi.</p>
<h3>6. Nhắm mắt đưa chân nhưng không thành</h3>
<p>Có lúc hạ quyết tâm ừ thì yêu đi, sợ gì. Xung quanh có nhiều người tán tỉnh, tin nhắn chờ hàng tá, tin nhắn chưa kịp rep cả lô. Những lời quan tâm hỏi han, lời mời đi chơi không kịp phản hồi.</p>
<p>Cũng có khi gật đầu đi chơi, ăn uống hay nói chuyện… Đôi lúc về thấy cảm xúc dạt dào, có lẽ là hơi THINH THÍCH rồi…</p>
<p>Được vài hôm, bạn thấy không thích người đó nữa, chả nhung nhớ, chả quan tâm. Thậm chí những tin nhắn hỏi han lúc này trở nên phiền phức vô cùng và bạn muốn chấm dứt ngay.</p>
<p>Lỡ mà gặp lại tự bản thân thấy có chút ghét ghét hay muốn xa lánh trong khi họ vẫn quan tâm, thể hiện. Đương nhiên là người ta chả làm gì sai với bạn cả.</p>
<p>Đa phần những người bị duyên âm theo đuổi tính cách có phần bất ổn, lúc hào hứng tiếp nhận, lúc đây đẩy xa lánh, sự thay đổi này nhanh chóng mặt khiến cho đối phương không kịp trở tay, dần dần trở nên khó chịu, chán ghét…</p>
<h3>7. Tự nhiên nghĩ vu vơ rồi tự làm mình buồn</h3>
<p>Thường là với nữ: Tự nhiên quanh quẩn với 1 đống tâm sự, lôi hết chuyện buồn quá khứ, dữ kiện tương lai, nhận định hiện tại ra để suy nghĩ, rồi buồn! Lắm lúc còn rơi nước mắt tủi thân nữa …!!!</p>
<p>Có những người tiền kiếp dùng sắc đẹp làm hại người càng hay bị bóng đè và luôn có cảm giác cô độc.</p>
<h3>8. Tôi không phải dành cho bạn</h3>
<p>Có người chưa chồng con hay chưa có người yêu nhưng hay mơ hoặc có cảm giác như đã từng có người yêu, từng có chồng, có vợ, thậm chí có những giấc mộng đang yêu thương, chăm sóc gia đình vợ con/chồng con rất chu đáo.</p>
<p>Trong thực tế cuộc sống họ có cảm giác không muốn tiến xa với ai vì luôn mơ hồ về người trong tim mình khác hẳn với những người mình quen biết hay gặp mặt. </p>
<p>Người tâm giao đó đang ở một nơi nào đó, cũng đang tìm kiếm, đang chờ đợi họ, đang mong được đoàn tụ với họ và đó cũng là những gì họ chờ đợi. </p>
<p>Niềm tin này nghe hư ảo không rõ ràng nhưng lại rất kiên định, khiến cho người bị duyên âm theo đuổi không có hứng thú tìm hiểu hay mở rộng mối quan hệ yêu đương với ai.</p>
<h3>9. May mắn, dự cảm và những điềm báo</h3>
<p>Bạn như có một giác quan thứ 6, nhiều khi mơ hồ được báo trước những việc xảy ra, hay gặp may bất chợt,  hay dự cảm được việc tốt việc xấu, người này hợp tác sẽ thành công, hay người kia không đáng tin … Thậm chí có những giấc mơ điềm báo rõ ràng một vấn đề sắp tới. Khiến cho bạn tự cảm nhận được mình có một năng lực tâm linh nào đó phù hộ.</p>
<p>Đa phần sự phù hộ này là về mặt công việc, bạn bè, thăng tiến, tiền bạc…. hiếm khi hay không bao giờ là về tình duyên.</p>
<h3>10. Mệt mỏi, cơ thể đau nhức khó chịu mà không khám ra bệnh</h3>
<p>Bạn cảm thấy cơ thể càng ngày càng mệt mỏi, đôi khi đau nhức một vị trí nào đó trên cơ thể, thậm chí có cảm giác đêm hôm trước vừa quan hệ với một người lạ mặt nào đó nhưng không thể xác định, thậm chí có người còn bị ảo giác mình đang mang thai với người kia. Khiến cho tâm trí bạn sợ hãi, mất ngủ, áp lực… Khi đi khám thì lại không khám ra bệnh tật hay vấn đề gì.</p>
<p>Có nhiều người bị bóng đè,</p>
<p>Rất có thể bạn đã bị duyên âm đeo bám lâu ngày, hút cạn sinh khí sinh ra mệt mỏi.</p>
<h3>11. Cảm nhận tâm linh và âm khí</h3>
<p>Những người có duyên âm đeo bám lâu ngày sẽ có sự cảm nhận về tâm linh rõ nét hơn người thường. Khi đến nơi âm khí nặng như nghĩa trang, tang ma thì thấy rờn rợn, lạnh gáy… còn khi đến những nơi linh thiêng như đền phủ, ban đầu bạn có thể sẽ có cảm giác rùng mình, nhưng ở lại một lúc thì cảm thấy dễ chịu, nhẹ nhàng hơn.</p>
<h3>12. Luôn dè chừng những mối quan hệ khác giới</h3>
<p>Nếu có ai “lỡ lời” tán mình là nghĩ ngay: Muốn…. (ý đồ đen tối) hay sao?</p>
<p>Nếu ai đó “chẳng may” chạm vào bạn thì cũng ngay lập tức tránh xa thậm chí là có phần gay gắt vì đơn giản bạn ghét sự động chạm khác giới.</p>
<p>Bạn cố tránh xa những mối quan hệ có khả năng dù là 0.01% tiến xa hơn trên mức bạn bè. Hạn chế tối đa đi chơi đêm hay riêng 2 người. Có đi đâu thì cả lũ cả đoàn và lỡ có nghe thấy mấy câu ngọt nhạt thả thính thì cứ bơ đi giả vờ như “điếc bẩm sinh”…</p>
<p>Ngoài những lí do tính cách con người, lí tưởng cá nhân hay những người bản chất vô duyên vô ý không ai yêu ... thì đa phần những biểu hiện trên là có mặt âm tác động.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Cô Bơ là ai, Có phải cứ hầu Cô Bơ là khó, buồn?</title>
<link>https://tuvidonga.com/co-bo</link>
<guid>https://tuvidonga.com/co-bo</guid>
<description><![CDATA[ Rất nhiều người hầu giá Cô Bơ là bị khóc, buồn tủi, hay những người dự hầu giá Cô Bơ cũng bị khóc, rất nhiều quan điểm cho rằng đây là điều đương nhiên và khóc buồn cũng là chuyện bình thường, vì hầu hết ai cũng biết rằng căn cô bơ là vất vả đường tình duyên. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_380x226_669fbad1708b6.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 19:54:59 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords></media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Rất nhiều người hầu giá Cô Bơ là bị khóc, buồn tủi, hay những người dự hầu giá Cô Bơ cũng bị khóc, rất nhiều quan điểm cho rằng đây là điều đương nhiên và khóc buồn cũng là chuyện bình thường, vì hầu hết ai cũng biết rằng căn cô bơ là vất vả đường tình duyên. Bài viết này chia sẻ cho mọi người cùng biết về thánh tích Cô Bơ, Có bao nhiêu Cô Bơ và có phải cứ hầu giá Cô Bơ là bị khóc, buồn hay không.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_669fbad153b8f.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="680" height="565"></p>
<h2>1. Có bao nhiêu cô bơ</h2>
<p><strong> Xét về Thánh Tứ Phủ thì có:</strong></p>
<p>- Cô Bơ Thủy Thần</p>
<p>- Cô Bơ Hàn Sơn (Cô Bơ Bông – Nhân thần)</p>
<p>Cô Bơ Thượng</p>
<p><strong>Xét về Thánh các dòng đồng và vùng miền thì có:</strong></p>
<p>- Cô Bơ Tây Hồ (Cô Bơ Hà Thành)</p>
<p>- Cô Bơ Tam Kỳ</p>
<p>- Cô Bơ Ngoải Cảnh/ Cô Bơ ngoại càng, Cô Bơ xứ Huế Cô Bơ chín suối ....</p>
<p>Đối với người Việt Nam các vị Thánh có kèm chữ “Bơ” thực ra là từ tượng trưng cho thoải phủ.</p>
<p>Ví như ông quan Bơ phủ, Cậu Bơ, Chầu Bơ, Hoàng Bơ, Cô Bơ… Đó là cách gọi nôm na dân dã của nhân dân để tôn sùng các vị Thánh Thoải hoặc có xuất tích từ thoải.</p>
<p>Từ xưa đến nay các cụ cũng chỉ thờ Cô Bơ Thủy Thần và Cô Bơ Thác Hàn là chính. Còn các vùng miền thường thờ và hầu các cô địa phương bản cảnh cũng gọi là Cô Bơ nhưng quan điểm và lề lối hầu hạ khác nhau.</p>
<p>Hãy cùng tìm hiểu:</p>
<h3><strong>Cô Bơ Thủy Thần</strong></h3>
<p><strong>Tích thứ nhất :</strong></p>
<p>“Nhang dâng một chuyện trống điểm ba hồi</p>
<p>Đệ tử con tiến bản văn mời</p>
<p>Dâng sự tích cô Bơ, thủy tinh công chúa</p>
<p>Tiền duyên sinh nở hạ giới tòa long cung, cô biến hóa lên về động điện trung, khi thác xuống làm con vua thủy tộc”</p>
<p>Tương truyền, cô Bơ là con gái Vua Thủy Tề dưới Thủy Cung. Cũng có tài liệu ghi chép rằng, cô là con gái của Long Vương, hầu cận cho Đức Vương Mẫu.</p>
<p>Về Cô Bơ Thủy Thần thì có lưu truyền tích sau:</p>
<p>Trong một trận đấu không cân sức, quân bị đánh úp tan rã các nơi, Lê Lợi một mình một ngựa chạy đến nơi hoang cùng ngõ hiểm, chạy mãi đến khi ngựa lăn ra chết. Toán truy đuổi vẫn ở phía sau. Tướng quân chạy bộ thẳng vào khu rừng trước mặt, trời vẫn mưa tầm tã không dứt.</p>
<p>Chạy đến khi đêm tối có dòng sông chặn lại. Tướng quân bèn chạy dọc theo bờ sông đến lúc sức cùng lực kiệt mới gặp một ngôi miếu nhỏ trên Miếu Đề Thủy Tinh Công Chúa nhưng không thấy ai quanh đó.</p>
<p>Ông bước vào, người mệt rã rời gục thiếp đi nhưng không thể say giấc được vì trong tâm trạng giặc Minh đuổi theo truy sát bất cứ lúc nào.</p>
<p>Trong lúc thiếp đi nửa tỉnh nửa mơ được một lúc bỗng có một vị Thần rẽ nước dưới sông mà đi vào miếu hình dung là một người con gái mặc áo trắng, tóc búi ngược đội nón kinh như mão quan âm  khuôn mặt thanh thoát, dáng người cao ráo đẹp như tiên nữ. Nàng nhẹ nhàng nói: Tướng quân người mang thiên mệnh, sẽ trải qua rất nhiều cay đắng và mất mát vất vả thăng trầm cùng chia ly… cũng bởi một lòng cứu dân thoát ách nô lệ, giành lại lãnh thổ. Sau này ngài sẽ được bách Thần nước Nam âm  phù, ắt thành nghiệp lớn.</p>
<p>Nay đã đến nơi đây, ngài cứ yên tâm ngủ đi, ta sẽ canh cho tướng quân ngủ cho ngon giấc.</p>
<p>Mê man trong giấc mộng ảo,  tướng Quân nghe thần nữ nói vậy bèn trả lời rằng: Bao nhiêu Thần linh và người đều nói ta có mệnh thiên tử, giúp nước giúp dân làm nên nghiệp lớn, được thần phù trợ. Vậy mà bấy lâu nay nghĩa quân không biết bao nhiêu lần phải tan rã, bao dũng tướng và người thân theo ta cùng làm nghiệp lớn cứu quốc đã tử trận. hôm nay thân ta cũng phải chạy trốn nơi thâm sơn cùng cốc này, đến người vợ ta yêu quý cũng đã hiến cho Thần mất rồi mà sự nghiệp vẫn dở dang thì nói gì đến chân mệnh thiên tử, nói  gì đến thần phù.</p>
<p>Thần Nữ mới nói: Tướng quân chớ nản chí. Việc người vợ xưa kia cũng là do duyên trời định, duyên với ngài tại dương thế đã dứt. Chớ nên buồn lòng oán trách.</p>
<p>Ta và tướng quân vốn có nhân duyên tiền kiếp. Nay được gặp nhau tại đây cũng là duyên nợ, ngài có ưng thuận lấy ta làm vợ không?</p>
<p>Tướng quân bật cười nói: Ta nay thân như vậy mà nàng vẫn muốn lấy ta sao? Nếu đã có nhân duyên, ta thuận lòng cùng nàng kết duyên chồng vợ tuy Rằng Thần và người Âm và dương cách trở.</p>
<p> Nhưng giặc kia đuổi đánh sắp đến nơi, thân ta rã rời chẳng còn bước nổi. Ngựa cũng đã chết, chưa biết có qua được cơn hoạn nạn này không?</p>
<p>Người thần nữ mỉm cười nhẹ nhàng nói: Đã có ta ở đây, mọi việc sẽ ổn cả. Chàng hãy ngủ cho say giấc, ngày mai thức dậy hãy đi về phương Nam sẽ được vạn sự lành.</p>
<p>Tướng quân ngủ say đến sáng thức dậy, quả thật quân giặc không tìm đến nơi này. Sau khi tỉnh giấc mộng, ngài nhìn lên thấy bức tượng trong miếu thờ giống với người con gái mình nằm mộng đêm qua.</p>
<p>Bèn nói rằng: Cảm tạ nàng đã cứu giúp ta qua cơn hoạn nạn. Lời nói ra xin ghi tạc, đợi ta thành sự nghiệp sẽ quay lại có lễ cau trầu rước nàng làm Vợ dù Thần và Người âm dương cách trở.</p>
<p>Ngài nhớ lời dặn đi về phương Nam, ra khỏi cánh rừng liền gặp được nghĩa quân đã tụ họp đang đi tìm ngài. Quân tướng lại đồng lòng phát dương lực lượng, nghĩ kế tiếp tục chống giặc.</p>
<p>Kể từ sau đó, nghĩa quân đánh đâu thắng đó, vượt qua nhiều cơn hiểm nghèo khó khăn đều chiến thắng giòn dã.</p>
<p>Sau này, vị tướng quân đánh đuổi được giặc Minh, giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ nhiều năm. Ngài lên ngôi xưng vua, thực hiện nhiều chính sách an dân, hộ quốc.</p>
<p>Ngài trở về đến nơi rừng hoang xưa, mang theo cau trầu lễ vật tìm đến nơi miếu nhỏ để có lễ cưới với vị Thần là người người con gái (tiên nữ) làm vợ như lời đã hứa. Nhưng đến nơi thì ngôi miếu không còn, cảnh vật hoang vắng đìu hiu. .</p>
<p>Trong triều thần, dù không chính tắc nhưng ai cũng biết vua có 2 vị phi tử không phải người trần - một vị phu nhân đã mất và Phu nhân là Thủy thần áo trắng tại miếu -  được gọi là nhị vị thần phi. (Thần phi ở đây chỉ không phải người trần chứ không phải danh phi).</p>
<p>Trước đây các cụ đồng cổ hầu Cơ Bơ Thủy Thần đều lên khăn tựa hình mão quan âm là vì vậy. Khi ngự đồng cô mặc áo trắng, khai quang, chèo thuyền, ban thuốc chữa bệnh… cho bách gia. Khuôn diện thanh thoát, bước đi thoải nhẹ nhàng.</p>
<p>Và đặc biêt lên khăn  cũng  khác.</p>
<p>“Hiển danh là bóng cô Bơ</p>
<p>Vào tâu ra giọng cô xuống toà thoải cung</p>
<p>Đẹp bằng Nghiêu thuấn, nữ trung</p>
<p>So bề tài sắc thiên cung nào tày</p>
<p>Lược ngà rẽ mái tóc mây</p>
<p>Nón kinh cô Bơ đội chân đi hài thêu hoa”…</p>
<p>Nhân đây tớ cũng kể lốt chuyện thần phi thứ nhất của vua lê : Câu chuyện về người vợ đã mất của Lê Lợi (Vị Thần phi thứ nhất):</p>
<p> Phạm Thị Ngọc Trần người hương Quần Lai, huyện Lôi Dương (huyện Thọ Xuân ngày nay), Thanh Hoá.</p>
<p>Ngày 20 tháng 11 năm Quý Mão (1423), năm thứ sáu của cuộc khởi nghĩa, bà sinh ra Lê Nguyên Long[3][4]. Lúc này, Thái Tổ Cao Hoàng chống chọi với quân Minh rất kịch liệt, phải di chuyển luôn, bà theo hầu rất gian khổ.</p>
<p>Vua Lê Thái Tổ không lập chính thất (vợ cả), chỉ có mấy người là Quận vương mẫu Trịnh Thần phi và Phạm Huệ phi cùng Phạm Thị Ngọc Trần.</p>
<p> kháng chiến chống nhà minh Lê Lợi vây thành Nghệ An, thua Trận liên miên khi đến thành Triều Khẩu ở Hưng Nguyên, có đền thờ thần Phổ Hộ, ông ngủ lại và nằm mộng thấy một vị thần đến xin một người thiếp nói với ông rằng bởi trong u minh thấy có nhân duyên tiền kiếp với người vợ này và hứa sẽ phù hộ cho Lê Lợi đập tan quân nhà Minh. Giấc mộng dở dang đã thức tỉnh. Cao Hoàng bèn đem chuyện này ra nói với các bà vợ của mình. Sau một hồi đắn đo cho rằng chỉ là giấc mộng ảo mà cho qua. Tuy nhiên giặc đuổi sắp đến gần lại nghe báo tin từ xa rằng nghĩa quân chia tách đã bị đánh bại. Nay chỉ còn chủ tướng mấy chục người tại đây.</p>
<p>Lúc đó bà Phạm Thị Ngọc Trần bèn quỳ xuống ngỏ lời xin được hiến cho Thần Phổ Hộ, trước là bởi bản thân cũng có cùng giấc mơ với Lê Lợi, sau là bởi tình thế nguy nan lúc này đánh giặc toàn thua chỉ có cầu Thần phù hộ mới mong tai qua và thành được nghiệp lớn. Dương trần không thể tiếp tục sát cánh thì dù có ở cõi âm bà cũng sẽ hết lòng phù hộ cho phu quân và nghĩa quân. Nàng nói: “Chỉ hiềm một nỗi con thiếp còn quá nhỏ, sau này tướng quân thành nghiệp lớn xin chớ phụ con của thiếp”.</p>
<p>Tướng quân nghe lời khẩn cần tha thiết, cuối cùng cũng đồng ý. Ngài nói:  Sau này lấy được nước nhất định sẽ lập con nàng làm thiên tử.</p>
<p>Lúc đó, Nguyên Long chỉ vừa 3 tuổi, bà đưa cho người hầu cận nuôi nấng và đi theo dàn tế lễ, bà gieo mình chết, đó là ngày 24 tháng 3.</p>
<p>Khi Cao Hoàng bình định được quân Minh, ông nói với quần thần: "Bà ấy đáng làm chúa cả trăm vị thần của nước ta, không ai dám trái". bèn sau đó sai người ở động Nhân Trầm là Lê Cối rước quan tài về táng ở Thanh Hóa[6]. Đi đến xã Thịnh Mỹ thì trời tối, chưa kịp qua sông bèn ngủ trọ ở chợ. Đến đêm mối đùn lên quanh quan tài một đống rất cao, biến thành nấm mồ. Sứ giả thấy lạ, trở về tâu Cao Hoàng, ông bèn nói: "Đó là vị thần đã làm theo lời hẹn", nói rồi sai bảo cứ để quan tài ở đó, xây dựng điện Hiến Nhân để thờ, đồng thời lập miếu, đặt thần chủ ở Lam Kinh để cúng tế.</p>
<p>Về sau, Cao Hoàng lại lập con trưởng là Quận vương Lê Tư Tề làm giám quốc, lo triều chính mà quên mất Lê Nguyên Long. Một hôm giữa trưa, Cao Hoàng nằm ngủ chợt mộng thấy Hoàng hậu oán trách rằng: "Đức hoàng phụ công của thiếp…Nay được thiên hạ rồi mà ơn thánh chẳng được hưởng", rồi tan biến.</p>
<p>Cao Hoàng hoảng hồn tỉnh dậy, lòng bồi hồi xúc cảm, bèn lập Nguyên Long làm con đích trưởng, cho nối ngôi. Bấy giờ, Quận vương tuy làm giám quốc nhưng bị người chống đối hãm hại, nói rằng quận vương mắc bệnh điên, lại dựng nhiều chuyện làm trái ý hoàng đế. Cao Hoàng buồn bực không thôi, nên có ý phế truất mà còn do dự, nay Hoàng hậu về báo mộng, nên mới có lệnh ấy.</p>
<p>Năm 1433, Cao Hoàng băng hà, Lê Nguyên Long lên ngôi, tức Thái Tông hoàng đế. Lòng bồi hồi nhớ về người mẹ quá cố, nên Thái Tông truy phong làm Cung Từ Quốc thái mẫu (恭慈國太母).</p>
<p>Ông cũng nằm mơ và kể lại , (bà mẹ là vợ kiếp trước của Thần Phổ hộ có nhân duyên với Lê Lợi đâm hạ phàm đến giờ mãn duyên được thần đòi về )</p>
<p>Tháng 2, năm Thiệu Bình thứ 4 (1437), Thái Tông Văn Hoàng truy tôn mẹ mình làm Cung Từ Quang Mục Hoàng thái hậu (恭慈光穆皇太后), thờ phụng ở Thái Miếu. Về sau người ta đều gọi bà là Cung Từ Cao hoàng hậu (恭慈高皇后).</p>
<p>Nói thêm vua Lê Lợi không lập Hoàng Hậu cũng bởi để ngai vị đó cho Thần Phi của mình.</p>
<h3><strong>Cô Bơ Nhân Thần (Cô Bơ Bông Hàn Sơn)</strong></h3>
<p>Cũng có chút pha với thủy thần.</p>
<p>Có 3 tích:</p>
<p><strong>1- Thần tích thứ nhất:</strong></p>
<p>Có tài liệu cho rằng: Cô Ba Thoải Cung vốn là con Vua Thủy Tề, được phong là Thoải Cung Công Chúa. Sau này, Cô được giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, có công giúp vua Lê Lợi trong những những ngày đầu khởi nghĩa. Sau này, sau khi cô hóa, cô còn linh ứng giúp vua lê trong cuộc diệt Mạc phù Lê.</p>
<p>Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cùng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đó không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi.</p>
<p>Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.</p>
<p>Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung.Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông.</p>
<p>Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây.</p>
<p>Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn”.</p>
<p><strong>2- Thần tích thứ hai:</strong></p>
<p>“Hàn Sơn phong mục ba bông</p>
<p>Ấy nơi kiếm khách thoát vòng hiểm nguy</p>
<p>Qua cơn binh lửa bất kỳ</p>
<p>Ngọc chìm đáy nước, rước cô về ba bông”…</p>
<p> “Theo huyền sử, vào khoảng những năm đầu đại Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), thái úy Lê Thọ Vực sau khi lập được nhiều công trạng được vua phong chức “Bình Trương Quân Quốc Trọng Sự”, rồi đến chức “Sùng Quốc Công”, giao chấn giữ biên ải Ba Bông “Rừng thiêng nước độc”. Trong một trận giao tranh ác liệt kéo dài, không phân thắng bại mà tình thế rất nguy cấp. Đêm hôm ấy, danh tướng đã mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”.</p>
<p>Theo lời, danh tướng dẫn quân xuôi về Chí Thủy (Thác Hàn Sơn bây giờ) dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa. (Dấu tích bãi đá ở Thác Hàn vẫn còn cho đến ngày nay).</p>
<p>“Thác Hàn Sơn lừng lẫy chiến công, nức tiếng muôn phương, oanh liệt một thời. Người con gái trong kiệu võng về báo mộng cho tướng quân Lê Thọ Vực đêm hôm ấy chính là Cô Ba hay Cô Bơ thoải phủ đền Ba Bông. Còn người báo mộng hiến kế để tướng quân Lê Thọ Vực phá giặc là “Đệ Tam Thủy Tiên Thánh Mẫu Bạch Ngọc Hồ Trung Xích Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ” hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải, Mẫu Hàn Sơn đều là một. Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Ba ở bờ bãi bồi Ba Bông hiện nay. Đền thờ Đệ Tam Thánh Mẫu ở non cao Thạch Bàn thác Hàn Chí Thủy (về sau mới di dời xuống bên sông để nhân dân thuận lợi việc thăm viếng). Nhớ ơn công đức của tướng quân Lê Thọ Vực, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ngay phía dưới trước đền Mẫu, được tách rời bởi sân Đại Bái (Từ đó đến nay vẫn giữ nguyên sự sắp xếp đó).</p>
<p><strong>3- Thần tích thứ ba:</strong></p>
<p>“…Hoa đào còn đợi gió đông</p>
<p>Ai mà hợp số khăn hồng cô trao</p>
<p>Ngọc lành còn đợi giá cao</p>
<p>Biết đâu quân tử mà trao duyên hài…”</p>
<p>Theo cuốn “Lê Triều Thần Phả Ngoại Biên” được lưu giữ tại Thái Miếu họ Lê có ghi chép về thần tích cô Bơ Bông tóm tắt như sau:</p>
<p>Vào khoảng năm 1432, vua Lê Lợi có một đêm mộng thấy một nữ thủy thần báo mộng: “Ta là con gái vua Thủy tề đây. Nhà vua còn nhớ là nợ ta một lời hẹn ước hay không? Bây giờ nghiệp đế vương đã thành sao chưa thấy trả”. Vua Lê Lợi giật mình tỉnh dậy mới nhớ lại chuyện cũ. Ngày xưa, vào những năm đầu khởi nghĩa, Lê Lợi bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp cô gái xinh đẹp, đoan trang đang tỉa ngô được cô cứu thoát. Vua Lê Lợi để tỏ biết ơn cô, có nói với cô rằng: ” Ta có một cháu trai tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn. Sau này kháng chiến thành công ta sẽ gả cháu ta cho cô.”</p>
<p>Người mà Lê Lợi nhắc đến chính là tướng quân Lê Khôi, cháu trai của Lê Lợi (Tướng Lê Khôi chính là một trong các hiện thân của Quan Hoàng Mười được thờ tại đền Củi ngày nay). Cô gái ấy chính là hiện thân của Cô Bơ. Tương truyền rằng, sau thắng lợi, Vua Lê Lợi có quay lại tìm cô gái nhưng không thấy. Như vậy lời hứa gả cô cho tướng Lê Khôi đã không được thực hiện. Sau giấc mơ, biết cô gái tỉa ngô nơi xưa chính là con gái vua thủy tề, hiện thân lên cõi trần để giúp vua xây dựng nghiệp lớn, vua Lê Lợi đã phong cô là “Thượng Đằng Thần” và cho xây dựng đền Cô, để tưởng nhớ công lao của Cô.</p>
<p>Đa phần các tích về Cô Bơ Bông Hàn Sơn đều khá buồn, nên khi hầu Cô Bơ Bông theo đúng lề lối các cụ đồng có chỉ dạy là không cười và các ghế hầu cô thường buồn. Còn hầu cô Bơ Thủy Thần và các cô bơ bản cảnh gương mặt mỉm cười cũng không sao.</p>
<p>“Giở trang tích cũ Lê triều</p>
<p>Có cô Bơ thoải mỹ miều thanh tân</p>
<p>Khăng khăng nắm giữ cơ trần</p>
<p>Phù Lê diệt Mạc bao lần xông pha</p>
<p>Đền Hàn Sơn chốn ấy quê nhà</p>
<p>Vì đời cô bẻ lái vượt qua thác ghềnh…”</p>
<p>Trước đó chiến tranh rồi lại do thời cuộc tất cả các đền bị phá .</p>
<p>Nhưng đền mất đất và tích thì còn</p>
<p>Sau này các đền được dựng lại .</p>
<p> chuyện các cụ truyền lại về cô Bơ cũng rất nhiều nhưng không có nói cô là Bà cô Tổ họ Nào</p>
<p>rồi Thánh Tứ phủ thì vậy</p>
<p>thánh bản cảnh thì sao:</p>
<p> Ở Hà Nội Xưa Các Cụ Hầu:</p>
<h3><strong>Cô Bơ hà thành</strong></h3>
<p> Về cô Bơ Hà Thành thì là do mấy người thương gia buôn bán ở Hà Nội hầu và các nhà buôn với phương Tây ở Hà Nội thường hay hầu cô. Gọi là Cô Bơ Hà Thành hay Cô Bơ Tây Hồ. Có truyền thuyết nói hầu cô thì sẽ buôn may bán đắt và được mặt hoa da phấn nên sau này một số Me Tây thời Pháp thuộc cũng theo vào để hầu cô.</p>
<p>Tích Cô Ba Tây Hồ, Cô Ba Hà Thành thực ra là cùng một cô:</p>
<p>Xưa kia sông Tô Lịch chạy bao quanh thành Hà Nội bắt nguồn từ ngã ba chỗ phố Chợ Gạo bây giờ chảy lên Hàng Buồm rồi đến phố Phan Đình Phùng, sau đó đến đoạn qua Cửa Bắc nó thành ngã ba, một chỗ rẽ sang điều tiết nước và là đường thủy Hồ Tây từ trại thủy quân bên Hồ Tây sang sông Tô Lịch. Còn dòng chính thì vẫn chạy bảo quanh thành.</p>
<p>Chỗ nhánh rẽ đó trước có ngôi miếu gọi là miếu Hạ Thành thờ một vị nữ thần tục cũng gọi là cô Bơ miếu Hạ Thành (miếu chân thành Hà Nội hay miếu sông Hà Thành, ý nói đoạn nối sông Tô Lịch sang Hồ Tây). Gốc là một ngôi miếu cổ có từ thời xa xưa tục truyền là thờ vị nữ tướng thời Hai Bà Trưng được dân dựng miếu dưới chân thành).</p>
<p>“Đinh Lê truyền đến Lý Trần</p>
<p>Bao cơn binh cách bao lần xông pha</p>
<p>Kinh kì nổi tiếng nhân hoa</p>
<p>Anh linh hiển thánh cô bơ Hạ Thành</p>
<p>Vốn người vào bậc nữ xinh</p>
<p>Dẹp quân giặc giữ liều mình sông Tô”</p>
<p>Sau này Pháp phá thành và lấp sông Tô Lịch, miếu cũng bị phá theo . Trước đây các cụ đồng là người Hà Nội vẫn hầu cô Bơ Hà Thành hay Hạ Thành cũng vậy.</p>
<p>Đến thời có vài vị Me tây (đặc biệt là cô Ba Tý và cô Tư Hồng ra đồng và giầu có lại hay hầu cô Bơ Hà Thành mà khi hầu cô thì lại hay cầm sắc (túi tây đi phát tiền). Mấy vị này cũng lắm tiền nên sau đó cánh phụ nữ An Nam có dính đến người Pháp hay lấy người Pháp (Me Tây) học theo hầu Cô Bơ Hà Thành cũng hay cầm sắc đi phát tiền).</p>
<p>Còn các cụ đồng Việt mà không lấy Tây ghét lắm. Nhân khi thành và sông Tô Lịch bị lấp điện cũng bị pháp phá để xây khu phố Phan đình Phùng như bây giờ, các cụ đồng người Việt không dính dáng đến Tây đều nói Cô Bơ về với Mẫu bên Hồ Tây ở Tứ Liên và Phủ Tây Hồ nên gọi là Cô Bơ Tây Hồ (cô là thần của đoạn sông nối với Hồ Tây). Khi hầu cô vẫn chèo thuyền và cầm lẵng hoa chứ không cầm túi sắc như me Tây.</p>
<p>“Cô cho lắm lộc nhiều tài</p>
<p>Tai qua nạn khỏi an khang thọ trường</p>
<p>Đầm sen Bát Cổ sớm chiều</p>
<p>Ngọc Sơn Bà Triệu lại vào Đông Thương</p>
<p>Tây Hồ bái yết mẫu vương</p>
<p>Nghi Tàm trúc bạch lại sang Ngọc Hà”</p>
<p>Nhân đây để tránh hiểu lầm về từ (me Tây) và để thông tỏ cái xuất thân và hoàn cảnh sao phải làm me Tây của cô Ba Tý và cô Tư Hồng tôi cũng kể một chút: Đạo nào cũng bao dung, Phật hay Thánh thì cũng không chê phật tử hay còn chiên con nhang mình xuất thân không được tốt. Tuy rằng mang tiếng là me tây nhưng hai cô tôi nghĩ nhiều người không bằng đâu.</p>
<p>Tôi kể sơ một chút:</p>
<p>Cô Ba Tý khi nhỏ bố là thầy đề ở Ninh Giang sai đi mua dầu, nửa đường đánh vỡ chai dầu sợ tội chạy chốn vì còn nhỏ không biết đường về đi lạc mới được vợ chồng công sứ Hưng Yên J .Simoney mang về nuôi. Năm 1905 vợ công sứ bị dịch hạch chết, tay công sứ đó mới hấp diêm con nuôi. Lúc này cô 17 tuổi đã bị cha nuôi hãm hiếp, nửa đêm cô lấy chỗ tiền tiết kiệm của mình từ khi làm con nuôi cho vợ chồng công sứ khoảng 1.000 đồng chạy xuống tầu thủy lên Hà Nội và ở tại khách sạn Kim Kê. Sau đó do biết tiếng Pháp lại ở khách sạn Kim Kê quen với nhiều Tây rồi đồng ý lấy quan ba của pháp là Bounet. Chưa kịp cưới thì tay quan 3 bị nghĩa quân Đề Thám giết. Sau đó cô lại đồng ý lấy quan tư pháp là lastellel. Tay này đưa hết tài sản cho cô nhưng chưa kịp cưới thì cũng chết vì dịch tả trên lạng thương. Sau đó cô lấy Jean Broussais là chủ mỏ vàng suối rít Hoà Bình, lúc này cô chuyển nghề chuyên chạy mánh và giấy tờ giữa chính quyền Pháp và người An Nam. Trong thân phận là phụ nữ suốt ngày giao du với Tây để làm ăn, chồng lại đi suốt nên cô Ba cũng cặp kè nhiều Tây rồi cũng bỏ chồng và từ đó sống một mình.</p>
<p>Về một người đàn bà có số phận éo le mà gây dựng được cơ đồ phải nói là kinh khủng. Đặc biệt cô là con đồng nhà Thánh có xây điện thờ Thánh ở phố Hàng Bạc. Cô còn mua nhiều bảo vật cổ vật hiếm có để trưng bầy. Đặc biệt nhiều món cô mua của sỹ quan Pháp lấy trong cuộc chiến 1900 tại cố cung nhà Thanh thời Pháp thuộc. Nhiều viện bảo tàng Châu Âu sang hỏi mua cô không bán. Cô là người giữ được nhiều đồ cổ quý giá nhất Việt Nam. Trong thời kỳ tiếp quản, đồ vật của cô nhà nước cho vào viện bảo tàng hết.</p>
<p>Cô Ba Tý tuy là con đồng nhưng bị giới đồng bóng thời đó rất ghét và gọi là con me Tây phá đạo Thánh vì hai tội:</p>
<p>1- Hầu các quan hay các hoàng luôn gọi mấy tay tây trắng quan chức người Pháp lên xập công đồng và bắt quỳ xuống làm ngựa để cưỡi. </p>
<p>2 - Hầu cô Bơ Hà Thành không chèo thuyền cầm lẵng hoa mà cầm sắc như mấy mợ nhà giàu kiểu tiểu thư đi chợ phát tiền. Cái kiểu hầu này sau một loạt những người me Tây hay dính đến Tây là học theo.</p>
<p>Một cô nữa cũng xuất thân khổ cực và oan trái lại vất vả hơn cô Ba tý, cũng là đầu trò kiểu hầu cầm túi sắc đi chợ này là Cô Tư Hồng.</p>
<p>Cô bị bố mẹ bỏ lại cửa đền từ khi mới đẻ. Bà mẹ nuôi đói khổ nhặt ở cửa đền nên cho rằng cô là con nhà thần thánh ban cho.  Cuộc sống đói khổ khó khăn từ nhỏ đến khi được lấy chồng là người Tầu tên là Hồng. Sau đó chồng bỏ về Trung Quốc bỏ cô lại không nơi nương tựa.,....Rồi vận may đến cô lấy được quan tư Pháp nên gọi là Tư Hồng. Cô làm kinh tế tốt, thầu vật liệu xây dựng thầu cơm của các trại lính trại giam..., thầu xây dựng nhà cửa đình thự ... Và đặc biệt là chạy án (đút lót xin giảm và xoá án có vụ cô chạy án kể cả bị xử 15 năm cũng xin tha bổng). Sau cô dính vào nhiều vụ chạy án chính trị và Pháp cho là cô nguy hiểm khi tiếp tay cho tù chính trị nên bị Pháp họ phong toả việc làm ăn của cô.</p>
<p>Cô Tư Hồng cũng gọi là me Tây nhưng lại sống đúng bản chất cô đồng. Cô bỏ rất nhiều tiền, chưa có cuộc lũ lụt hạn hán nào không có mặt cô đi phát chuẩn cho nạn dân. Cô phát cả thịt chứ không phải chỉ có gạo không..., thương người thương dân đúng như câu hát văn rằng:</p>
<p>“Thương người dạ thảo lòng ngay</p>
<p>Tài ba lỗi lạc sớm cày chiều thơ</p>
<p>Thương người rắc đậu trồng ngô</p>
<p>Xót người cùng khổ bốn mùa ăn đong</p>
<p>Giận ai bạc chảy tiền ròng</p>
<p>Công lao một chút, chỉ hòng tạc bia…”</p>
<p>Cô cũng bị những người đồng bóng chính phái ghét vì cùng cô Ba Tý là đầu trò hầu cô Bơ Hà Thành theo lối mợ, lối kiểu cầm sắc tung tẩy như tiểu thư đi chợ.</p>
<p>Nói dông dài vậy để mọi người hiểu về kiểu hầu này và cũng thông cảm cho hoàn cảnh éo le của những người phụ nữ xuất thân không được như mọi người, lại trong thời bị đô hộ và cũng biết về xuất xứ của kiểu hầu này.</p>
<p>CÔ BƠ TAM KỲ: Tích về cô Bơ Tam Kỳ hiện nay không còn thấy lưu truyền rộng rãi, chỉ biết rằng xuất phát từ những người miền Bắc di cư vào Miền Nam và hầu Cô gọi là Cô Bơ Tam Kỳ. Khi ngự đồng cô mặc áo trắng, đầu đội nón kinh giống như mão của Phật bà quan âm.</p>
<p>Cô Bơ bản cảnh/ Vùng miền: Thường thấy ở Huế và miền Trung. Ngoài hầu Cô Bơ thoải phủ còn hầu Cô ba/ Thiên Thần/cô bơ ngoại cảnh, cô Ba xứ Huế,  …(Quan niệm nơi đây có Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Trung Thiên và Thuỷ Phủ. Tức Trung Thiên Ngoại Cảnh, cảnh con người đang sinh sống, tầng trời ở giữa.)</p>
<p>Hay một biến thể của cô bơ  thượng là cô Bơ chín suối....</p>
<p>Hầu Cơ Bơ Thoải ở Miền Trung cũng tương tự như miền Bắc, cô ngự đồng áo trắng, chèo thuyền…</p>
<p>“Kim chi ngọc diệp đành rành</p>
<p>Bóng cô ba thoải anh linh thay là</p>
<p>Vốn dòng con đức vua cha</p>
<p>Giáng sanh giờ ngọ vốn giòng thần tiên</p>
<p>…Hoa đào đợi gió mùa đông</p>
<p>Đợi người quân tử, tơ hồng cô trao</p>
<p>Có khi cô bắt võng đào</p>
<p>Cô lên thiên thượng lúc vào chầu tiên…”</p>
<p>Hầu cô bơ Ngoại cảnh cô tấu hương khai quang, múa mồi…ban tài ban lộc, cứu chữa bệnh, ban nhân duyên và cả soi xét gia sự…</p>
<p>“Song đăng cô lại múa chơi</p>
<p>Múa rồi khi ấy cô ngồi bói khoa</p>
<p>Mách cho việc cửa việc nhà</p>
<p>Người đi ngàn dặm đường xa chưa về</p>
<p>Cứu người trót lỡ lời thề</p>
<p>Sanh ra đau ốm mỏi mê trong mình</p>
<p>Cứu người mắt bệnh tà tinh</p>
<p>Đêm nằm mộng khiến thấy mình như không</p>
<p>Giúp người nên vợ nên chồng</p>
<p>Giúp người thơ ấu thoát vòng gian nan</p>
<p>Giúp người chức trọng quyền sang</p>
<p>Giúp người phú quý thọ sang muôn đời”</p>
<p>Một số nhà có Bà cô tổ chết đuối nước cũng hay gọi là Cô Tổ Bơ nên có thể gọi là Cô Bơ tổ của dòng họ.</p>
<p>Cô tổ Bơ Thân tộc....</p>
<p>Đặc biệt: Đôi khi người ta được nghe đến Cô Bơ Thượng Ngàn. Thực ra đây là cách đọc chếch đi. Bản chất là Cô Ba thượng ngàn mới đúng bởi cô là một trong mười hai vị Thánh Cô trên Sơn Trang theo hầu Mẫu Thượng Ngàn - không thuộc hàng Tứ Phủ Thánh Cô.</p>
<p>Cô Bơ Thượng Ngàn được thờ phụng một số ngôi đền cổ và cung thờ tại nhiều vùng như đền Mẫu Lộc Bình (thị trấn Lộc Bình, Lạng Sơn). Ngoài ra, tại một số vùng như đền Thượng (Vụ Bản, Hòa Bình) hay ở Tam Kỳ (Quảng Nam) cũng có đền thờ cô. Tại mỗi nơi, nhân dân lại xưng danh cô theo tên của ngôi đền đó như cô Ba Vụ Bản, cô Ba Tam Kỳ (khác với cô Bơ tam kỳ)…</p>
<p>Ngoài ra cô Bơ thượng còn được thờ vọng tại thể di tích Phong Mục – Thanh Hóa. Cung thờ vọng cô cạnh lầu Cô Bơ Thoải bên kia sông, gần đền ông Hoàng Bơ.</p>
<p>Nói chung cô Bơ thì nhiều tích</p>
<p>Nhưng đa Phần trong Tâm thức người đồng nhân từ xưa đều hầu cô với hai vị</p>
<p>Cô Bơ Thủy Thần và Cô Bơ Nhân Thần còn đâu theo vùng miền mà bắc ghế ker ra có nhièu Cô Bơ</p>
<p style="text-align: right;"><em><strong>Nguồn: Thầy Trần</strong></em></p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tam hồn thất phách là gì (ba hồn bảy vía)?</title>
<link>https://tuvidonga.com/tam-hon-that-phach</link>
<guid>https://tuvidonga.com/tam-hon-that-phach</guid>
<description><![CDATA[ Xét về lí luận cơ sở: Thần hồn người sống hay hồn ma vong hồn hay vong linh, con ma hay gọi là: Hồn và phách. Đây là khái niệm của gần như tất cả các dân tộc trên thế giới đặc biệt là của Đạo giáo. Trung Quốc gọi là hồn và phách thì Việt Nam gọi là hồn và vía. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_380x226_669fbe3e7be9a.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 17:41:35 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>tam hồn thất phách</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Xét về lí luận cơ sở: Thần hồn người sống hay hồn ma vong hồn hay vong linh, con ma hay gọi là: Hồn và phách. Đây là khái niệm của gần như tất cả các dân tộc trên thế giới đặc biệt là của Đạo giáo. Trung Quốc gọi là hồn và phách thì Việt Nam gọi là hồn và vía.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_669fbe3e6ec8b.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="491" height="383"></p>
<p> Trong lịch sử Giao Chỉ vào thuở Sĩ Vương (137?-266) cai trị (187-266), Trung Quốc loạn lạc, các Nho gia và danh sĩ đời Hán chạy sang Giao Chỉ lánh nạn rất nhiều. Trong số đó cũng có nhiều đạo sĩ bởi Đại Việt sử ký toàn thư do các sử thần Lê Văn Hưu, Phan Phú Tiên, Ngô Sĩ Liên... soạn thảo (1272-1697) chép rằng: Khi Sĩ Vương bệnh nặng hôn mê ba ngày thì có một người tiên tên là Đổng Phụng cho thuốc cứu sống. Do đó, khái niệm chữ viết trong lịch sử hồn-phách có lẽ đã có ở nước ta từ thuở ấy.</p>
<p>Còn trước đó có lẽ gọi khác nhưng cùng chung bản chất chỉ hồn/phách hay hồn/vía.</p>
<p> Đạo Giáo: Dòng phù thủy quan niệm có tam hồn và thất phách. Tam hồn (ba hồn) là: Sảng Linh, Thai Quang, và U Tinh. Thất phách (bảy vía) là: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, và Xú Phế .</p>
<p>Còn dòng luyện khí lại có quan niệm liên kết các khiếu với huyệt lạc ....</p>
<p>Người Việt Nam hay người phương Nam lại có khái niêm tam “hồn” là: Thiên hồn (linh hồn) -  Địa hồn (sinh hồn) và nhân hồn (giác hồn).</p>
<p>Còn “vía” hiện ra  gồm bẩy lỗ là nam chín lỗ là nữ: Hai lỗ tai, mồm, mũi, mắt, hậu môn và dương vật/ âm hộ , nữ thêm hai lỗ ngực.</p>
<p>Người Việt Nam có lẽ cho rằng thân thể người nam có bảy lỗ (thất khiếu), thân thể người nữ có chín lỗ (cửu khiếu) nên đã phát triển quan niệm rằng nam có ba hồn bảy vía, nữ có ba hồn chín vía (tương ứng với bảy lỗ và chín lỗ). Khác với quan điểm của Trung Quốc thì nam cũng như nữ, chỉ có ba hồn và bảy phách (vía) mà thôi.</p>
<p>Tuy nhiên, khái niệm hồn - phách không có ý nghĩa xác định chung chung mà khái niệm này phải được xác định trong một ngữ cảnh cụ thể.</p>
<p> Trên quan điểm y học Trung Quốc, Trần Anh Ninh tổng luận: “Các thuyết trên đây bất đồng, xét chung thì có thể chọn được một trong các thuyết có vẻ xác đáng. Nội kinh nói: ‘Hồn phách đầy đủ mới thành hình người hoặc vật’.</p>
<p>Trần Anh Ninh (hiệu Viên Đốn Tử, 1880-1969) trong quyển Đạo giáo và dưỡng sinh (nguyên tựa: Đạo giáo dữ dưỡng sinh, Hoa Văn xuất bản xã tái bản, Bắc Kinh, 2000, trang 249-266) đã tổng kết mười thuyết về hồn-phách trong kinh điển Trung Quốc.</p>
<p>Trong lí thuyết Đạo Phậtcũng có đề cập: Con người có Bát thức (là 8 cái thức) trong đó Ý thức là cái thứ 6, chịu trách nhiệm "quản lý" 5 thức trước đó (gồm Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt và Thân), cơ chế quản lý này cũng bằng hệ thống Sóng trong cơ thể. (Nhưng có loài vật thiếu phách.)</p>
<p>Về khái niệm y kinh: Tiết Sinh Bạch chú (Khí và hình thịnh thì hồn phách thịnh). Khí và hình suy thì hồn phách suy. Hồn là sự rạng rỡ của phách, phách là gốc gác của hồn. Phách thì âm, chủ về tiếp nhận và cất trữ nên phách có thể ghi nhớ sự việc. Hồn thì dương, chủ về sử dụng nên hồn có động tác và phát huy. " khác với quan điểm cảu ta hồn là âm phách là dương "</p>
<p>Hồn và phách không thể xa lìa nhau. Tinh tụ thì phách tụ, khí tụ thì hồn tụ, tạo thành thân thể con người. Đến khi tinh kiệt thì phách giáng, khí tán thì hồn rong chơi [bên ngoài thân thể] mà không biết nơi nào’.</p>
<p>Chu Tử lại nói: ‘Không có hồn thì phách không thể tự tại, khiến người ta đa tư lự, hồn và phách đã rời nhau’. " hai câu trên phù hợp với quan điểm hồn chủ dương phách chủ âm "</p>
<p>Lão Tử chỉ muốn giữ cho chúng hợp nhau, nói: ‘Quản lấy phách thì hồn giữ phách. Hồn nóng phách lạnh, hồn động phách tĩnh, có thể lấy hồn giữ phách thì phách nhờ được giữ nên tĩnh. Phách lấy hồn mà có công việc. Cái nóng của hồn sinh ra sảng khoái, cái lạnh của phách sinh ra ấm áp. Hai thứ không rời nhau nên cái dương đó không nóng, cái âm đó không trệ thì đạt được hòa. Nếu không vậy, hồn ngày càng động, phách ngày càng tĩnh. Hồn ngày càng nóng, phách ngày càng lạnh. Hồn phách xa nhau vì không được hòa nên chết’. Nước là 1, lửa là 2. Lấy phách chở hồn, là lấy 2 giữ 1, ắt nước lửa giúp nhau mà không lìa, do đó sống lâu”.</p>
<p>Quan niệm Ấn giáo và Phật giáo cổ: 3 hồn: hồn khôn, hồn trung, hồn ngu. Người tu tập hòa nhập được giác tánh, hồn khôn hiển lộ, biểu hiện bên ngoài trí tuệ từ bi thiện lành.</p>
<p>Thuyết Ấn giáo lục đạo luân hồi mà nhà Phật phát triển kế thừa thì nói: vong hồn người quá cố phải qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày sau đó hồn mới được siêu thoát…</p>
<p>Theo quan niệm của nhà Đồng (Đồng nhân) thì:</p>
<p>Ba hồn:</p>
<p>+ Sinh hồn (Nhân hồn): phần đem lại nguồn lực sống, kế thừa máu huyết của cha mẹ hun đúc thân hình, tạo tư duy, tư tưởng, hành động cho thể xác.</p>
<p>+ Giác hồn (Địa Hồn): được hun đúc bởi thế giới và mảnh đất nơi sinh phần giúp cơ thể nhận biết, kế thừa văn hiến tư duy vùng đất, cảm thụ, phản ứng trong môi trường sống nơi đại địa sinh ra.</p>
<p>+ Linh hồn (Thiên hồn hay linh quang): phần quan trọng nhất, thâm sâu, linh diệu nhất của con người và vạn vật. Theo một số tín ngưỡng thì chịu kiếp luân hồi chính là phần hồn này.</p>
<p>Bảy vía:</p>
<p> Sách cổ chép rằng người ta mới sinh sống được 7 ngày gọi là Lạp (hay còn gọi là Cữ) sinh ra 1 vía. Đủ 7 vía thành người (49 ngày). Đủ 100 ngày thành 1 tuổi. Bé trai đủ 7 ngày, gái 9 ngày gọi là đầy cữ.</p>
<p>Trong sách Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quý Đôn cũng viết: " Tục nước ta sinh con được 3 ngày thì chỉ làm vài mâm cỗ cúng Thuần Dưỡng Bà. Đến ngày thứ 7, thứ 9, đầy 100 ngày thì làm lễ cáo gia tiên, yến tiệc linh đình...".</p>
<p>Vì thế, khi chết, sau 7 ngày là 1 ky tang, mất đi 1 vía. Bảy lần cúng ky tang thì cúng tuần chung thất - hết vía: 49 ngày. 100 ngày cúng Tốt khóc (thôi khóc).</p>
<p>Liên quan đến căn quả: Căn quả của người có đồng là bởi duyên nguyện và quả nghiệp của mình gây ra. Đặc biệt gọi là căn xuất địa sinh tam hồn đúc mệnh vị, do tam hồn tụ căn mà có.</p>
<p>Ta biết thiên hồn là điểm bất biến của mọi linh hồn trong tạo hóa. Thiên hồn đi lại nhiều kiếp kết hợp với nhân hồn và địa hồn cho ra nhiều hình hài khác nhau. Nó chỉ có chứa đựng những thứ tạo hóa cho phép mang theo trong luân hồi gọi là quả đạo duyên nghiệp đạo và pháp tắc.</p>
<p>Địa hồn hay còn gọi là Âm hồn là do đại địa nơi sinh hun đúc nó chứa đựng hiện tại hình hài của thế giới mảnh đất nơi sinh bao gồm văn hiến, văn hóa tín ngưỡng, phong tục thổ nhưỡng... của mảnh đất nơi đó.</p>
<p>Nhân hồn là do máu thịt và truyền thừa của cha mẹ hun đúc lên nó là đại diện hình hài thân thể và truyền thống nghiệp duyên phúc quả của cha mẹ gia tiên tiền tổ...</p>
<p>Nói thêm về luận điểm tu tập dựa trên khái niệm hồn/vía hay hồn/phách:</p>
<p>- Trong đạo giáo người ta tu khí huyết hay còn gọi là luyện khí luyện phách (khiếu huyệt).</p>
<p>Gọi chung là “Tính tu”. Cũng có pháp môn Đạo giáo “mệnh tu” trên cơ sở khí huyết tu dương pháp môn.</p>
<p>- Trong đạo Phật người ta tu chủ yếu là Tâm thức (Tu tâm). Tính chất đạo giác của quả nghiệp hay còn gọi là “Tâm pháp môn” như câu “Phật Tâm Phật tính” chứ không ai gọi là “Phật số Phật mệnh”.</p>
<p>- Người tu Nho họ tu theo đường vận tu gọi là nhân đạo chánh lộ: “Nhân Pháp môn”.</p>
<p>- Trong Đạo Mẫu người có đồng là tu hồn tu cốt (xương cốt- Đồng cốt) tu mệnh.  Vì tam hồn là cái trìu tượng không nhìn thấy được nên hay gọi là “Tu âm phúc” (Âm pháp môn).</p>
<p>Tu cốt là đi đường Thần Đạo nguyện lực gọi là  cốt tâm (đồ đằng chí tôn huyền hóa). Bản chất lấy chủ nguyện của tâm hướng tới khế hợp với đồ đằng.</p>
<p>Bởi là tu hồn nên Đồng Nhân luôn có được sự cởi mở trong tu tập hành trì.</p>
<p>Cũng do linh hồn con người gồm tam hồn cho phép chứa đựng tất cả những gì của thiên địa nhân nên đồng tu ngoài mật pháp của nhà Đồng có thể du nhập thêm các đạo tâm hay thân hay khí huyết (vì hồn là chủ của tâm của thân thể của khí huyết...) nên một số pháp của Đạo Phật hay Đạo Giáo, Nho Giáo... dung hợp trong tu đồng và tương hỗ cho đồng nhân trên con đường tu đạo cũng không có gì là lạ và dị biệt.</p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Tìm hiểu Pháp chữa bệnh cho vong</title>
<link>https://tuvidonga.com/chua-benh-cho-vong</link>
<guid>https://tuvidonga.com/chua-benh-cho-vong</guid>
<description><![CDATA[ Hồi nhỏ thầy có theo các thầy đi làm pháp để học đạo, được tham gia những buổi cúng độ âm, cúng tam nhật phục hồn hay cúng 49 ngày, cúng các đàn pháp độ vong...… Khi vời vong lên nhập vào người nhà để lai lời cho con cháu, các cụ hay hỏi vong là: ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_380x226_669fbf6fe8039.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 17:40:28 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>chữa bệnh cho vong</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Hồi nhỏ thầy có theo các thầy đi làm pháp để học đạo, được tham gia những buổi cúng độ âm, cúng tam nhật phục hồn hay cúng 49 ngày, cúng các đàn pháp độ vong...… Khi vời vong lên nhập vào người nhà để lai lời cho con cháu, các cụ hay hỏi vong là:</p>
<p>“Thế có đau ở đâu không? Có cần tôi chữa giúp gì không”.</p>
<p>Vong có đáp lại</p>
<p>Tôi bị đau ở chỗ này ..... chỗ kia thậm chí có vong bị mất một chân, ........xin thầy làm giúp tôi”.</p>
<p>Thế là thầy tôi làm pháp và chữa cho vong kể cả vong không chân lại có đủ chân.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_669fbf6fd5c8d.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="659" height="495"></p>
<p>Hay những trường hợp ốm nặng lâu ngày mới mất, các thầy cũng hỏi xem có ốm mệt không? Có đau chân tay không?... Vong nói đau ở đâu, mệt ở đâu... thế là thầy tôi làm pháp chữa giúp.</p>
<p>Khi trở về tôi mới hỏi thầy:“Thầy ơi, thầy làm lang thuốc thầy vẫn chữa bệnh cho người sống. Nhưng nay con thấy thầy chữa bệnh cho cả người đã chết. Con tưởng chết rồi thì sao còn phải chữa bệnh nữa? Thầy mới giảng cho tôi cặn kẽ lí do tại sao, rồi truyền dạy cho tôi pháp môn chữa bệnh cho vong để hành đạo độ âm cho trọn vẹn.</p>
<p>Đến nay nhiều khi nhìn thấy người làm thầy bà nhiều nhan nhản, gọi vong ốp nhập như đi chợ, cúng phục hồn, cúng 49 ngày gọi vong lên được nhưng chả hỏi han, giúp đỡ, chữa bệnh gì, vong linh cũng mệt mỏi đau yếu hay không được khai mở các khiếu mà chỉ biết rên, la, im lặng hay buồn bã, cáu gắt...</p>
<p>Nghĩ mà buồn cho một pháp môn vô cùng ý nghĩa của đạo.</p>
<p>Nay viết ra vài lời.</p>
<p>Cuộc đời hành đạo của một thầy pháp quan trọng nhất vẫn là độ vong. Thực ra nói độ vong thì nó rộng lắm, nhiều pháp lắm nhưng có một phần nhỏ, phần dễ bị bỏ qua nhất nhưng lại rất quan trọng . Đó là: Pháp chữa bệnh vong.</p>
<p>Đây là pháp chữa cho người đã khuất (lưu ý không phải là pháp chữa bệnh âm cho người sống). Pháp này là pháp mất gốc nhất bởi không ghi lại trong bất cứ khoa phạm sách vở nào nên dễ thất truyền nhất. Chỉ may ra có các cụ đồng pháp hay đồng dí chuyên chữa vong theo các cụ được học.</p>
<p>Thầy may mắn được học các pháp này và cũng gặp nhiều trường hợp đặc biệt. Thầy kể cho các con nghe:</p>
<p>Trước khi làm thầy đồng mở phủ dẫn đạo cho các con, thầy hay đi làm pháp đàn độ âm cho người. Ai cũng biết nghiệp theo ta như hình với bóng…</p>
<p>Thầy kể các con nghe trước :</p>
<p>Có một lần đi làm lễ, có một vong linh rất nặng nề, nhập vào một người con gái trong gia đình nhưng không nói gì. Thầy hỏi tại sao về mà lại không nói? Có gì cứ nói lại với người nhà. Vong này mới nói rằng: “Tôi không muốn nói gì cả, vì tôi cứ nhìn các con tôi là tôi thấy mình làm khổ chúng nó.”</p>
<p>Thầy hỏi: “Tại sao lại nói thế ?”</p>
<p>“Tôi vốn bị thương bởi chiến tranh mất đi đôi chân lại mang trọng bệnh, thôi cũng là hy sinh mất mát vì chiến tranh của tổ quốc, không có gì trách cứ cả. Nhưng cũng vì thương tật mà khi tôi còn sống con cháu phải chăm sóc vô cùng vất vả, tôi thì bệnh tật liên miên gia đình tài chính kiệt quệ. Đến lúc đã chết rồi thành vong linh muốn đi theo phù hộ con cháu cũng không đi được”.</p>
<p>Thầy nói: Ông thiếu đôi chân đúng không ? Để tôi giúp ông.</p>
<p>Nói xong thầy bèn ra cắt một đôi chân bằng giấy yểm chú đốt lên, rồi yểm chú và lệnh cho vong linh để gắn thêm thân thể. Sau khi được gắn đôi chân xong ông mừng rỡ cảm ơn và bắt đầu nói chuyện cùng con cháu.</p>
<p>Thầy nói các con nghe: Nếu như một người khi sống đang mạnh khỏe, đang có con có cháu tuổi bế tuổi bồng mà bỗng bệnh tật, hay bệnh nặng nằm một chỗ con cái phải chăm sóc vất vả. Đặc biệt là khi thấy con cái khó khăn mệt mỏi, không giúp đỡ được gì lại còn gây khó khăn cho gia đình thì người bệnh hay sinh tâm lý buồn bã. Khi đã chết thành vong linh lại vẫn với thể trạng yếu không thể phù hộ hay giúp đỡ cho con cháu rất hay sinh tâm lý oán trách tự bản thân mình, buồn khổ lâu sinh tâm níu kéo không thể buồng bỏ hoặc luôn chán nản chẳng thiết tu tập cho thần hồn được thanh tịnh rồi siêu sinh. Rồi những trường hợp mất do tai nạn, mất các phần thân thể, bệnh đau mà mất… khiến họ vẫn có cảm giác đau đớn triền miên, sao có thể tĩnh tâm tu học hay nghe kinh, chú gì được???</p>
<p>Những người thầy đi cúng hay độ âm giỏi ngày xưa thường phải biết chữa bệnh vong. Bởi những người bị tai nạn khuôn mặt biến dạng, tay chân mất mát, chết cháy, mù, câm, điếc, ốm đau mệt… đến nhờ người thầy cứu chữa cho về hình tướng lành lặn ban đầu, khỏe khoắn ra… để vong linh họ lấy lại tinh thần, tích cực hơn, họ đi theo giúp được con cháu mình, lại yên tâm tu tập cùng các cụ gia tiên tiền tổ không còn bám trụ vào cái sân hận khi sống làm gia đình con cháu khổ vì mình .?...</p>
<p>Thầy độ âm có tâm ngày xưa như bác sỹ chữa bệnh cho vong từ hoàn lành thân thể đến chữa những bệnh đau ốm yếu, dù bệnh nặng hay bệnh nhẹ đặc biệt là chữa về tinh thần của các vong để họ có suy nghĩ tích cực buông bỏ. Thường thầy độ âm sẽ hỏi vong xem có mệt mỏi đau yếu hay cần chữa phần nào, để chữa cho triệt để giúp vong linh yên tâm và thực tâm hoan hỉ trước khi rời đi (thoát khỏi người ngồi dí).</p>
<p>Chứ không phải độ âm là cứ chăm chăm cúng bái cầu siêu, hay cúng mâm vật thực, biếu tiền biếu mã… Khi người ta đau ốm, mất mát thân thể, nằm liệt hay bệnh tật...thậm chí mặt mũi biến dạng xấu xí, hay câm điếc mù lòa không nghe không thấy, mãi con cháu mới cậy sở thầy bà làm lễ vời lên được, người ta có ham ăn ham uống không? Cái họ cần họ muốn là được chữa được chạy cho bớt đau đớn mệt mỏi, chữa cho nghe được thì mới hiểu con cháu hỏi gì, cần gì; chữa cho nói được mới lai lời được cho con cháu chứ không nói được hay đau đớn mệt mỏi thì còn chỉ bảo, dặn dò gì nữa…? Chỉ có buồn bã, sân hận, cáu gắt, thở than… Khóa lễ như vậy thì chỉ có hình mà không có tướng, miệng nói hành đạo độ âm mà chẳng hiểu nỗi khổ của vong thì độ được đến đâu???</p>
<p>Lại nói, nhiều người nhầm tưởng rằng khi người ta chết thì những ốm đau, bệnh tật hay sự mất mát thiếu hụt thân thể khi còn sống đều tan biến. KHÔNG PHẢI!</p>
<p>Khi sống người ta bị bệnh tật đau ốm gì, mất thiếu bộ phận gì… khi chết đi thành vong linh vẫn mang những đau yếu, mất mát đó.</p>
<p>Tại sao vậy?</p>
<p>Bởi vong linh tồn tại bởi “thần”, phần “thần” này hiện hữu không phải chỉ ở bất cứ một bộ phận nào mà “thần” tồn tại ở từng tế bào trong cơ thể.</p>
<p>Thầy lấy ví dụ về khoa học luôn nhé :</p>
<p>Trên thế giới có rất nhiều trường hợp ghép tạng của người đã chết cho người sống, những người sống này sau đó luôn có sự thay đổi phần nào trong tính cách, thói quen, đặc biệt phần nhiều tương đồng với tính cách thói quen của người đã hiến tạng. Hiện tượng này khoa học hay gọi là: “Ký ức tế bào”.</p>
<p>Gần như đa số người được ghép các bộ phận của người khác đều có tính cách thay đổi một phần giống người cho tạng.</p>
<p>Khi một người mất đi một phần thân thể hay đau yếu khi chết, sự thiếu hụt đó hay đau đớn đó vẫn theo họ khi trở thành vong linh, bởi phần “thần” tồn tại trong phần thân thể đã mất trước đó không được nhập về với thần hồn khi họ từ giã cõi đời. Thần hồn phản ánh nguyên vẹn sự thiếu hụt hay đau đớn khi còn sống này.  Thế cho nên, ngày xưa khi các hoạn quan bị hoạn, phần thân xác bị tách rời đó được đem bảo quản và trả về cho họ chôn cùng khi họ chết, hay những trường hợp ở một số đồng bào vùng cao vẫn giữ truyền thống sấy khô bảo quản phần thân thể bị tách rời của người ta nếu không may bị tai nạn, sau này khi chết đem chôn theo là vì lí do này.</p>
<p>Trường hợp những người hiến tạng vì lí do nhân đạo, trong minh minh luôn có những bù đắp để thần hồn chân linh được nguyên vẹn lại tương ứng với công đức lớn lao (cứu người) mà họ đã cống hiến.</p>
<p>Các con thấy đó, Đạo Mẫu ta có rất nhiều pháp môn độ âm, không chỉ giải thoát cứu vớt cho vong linh thoát khỏi lang thang, trói buộc… mà còn chữa cả bệnh âm cho vong, để vong linh cũng được hoan hỷ, yên ổn thần hồn. Nhờ vậy mà âm siêu, dương thái.</p>
<p>Các con sau này hành đạo pháp ta, hành lễ độ âm cho người hãy chớ quên pháp chữa vong của đạo để hành đạo độ âm cho chu toàn.</p>
<p>Đừng học theo người đời hay những thầy bà mới nổi, chỉ có hình mà không có tướng, giúp người giúp chẳng đến đâu, độ vong mà chẳng độ được tận.</p>
<p style="text-align: right;"><em><strong>Nguồn: Thầy Trần</strong></em></p>]]> </content:encoded>
</item>

<item>
<title>Thứ tự các giá hầu trong đạo mẫu</title>
<link>https://tuvidonga.com/thu-tu-cac-gia-hau-trong-dao-mau</link>
<guid>https://tuvidonga.com/thu-tu-cac-gia-hau-trong-dao-mau</guid>
<description><![CDATA[ Hầu Đồng là nét đẹp văn hóa tâm linh Việt, Tuy  nhiên những người mới ra trình đồng mở phủ chưa thể tìm hiểu sâu về vấn đề đạo và lề nối khi ra hầu, Đồng Thầy đôi khi cũng chưa kịp dạy đệ tử hoặc có dạy cũng rất mơ hồ và khó nhớ. ]]></description>
<enclosure url="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_380x226_669fc454280d5.jpg" length="49398" type="image/jpeg"/>
<pubDate>Thu, 22 May 2025 17:34:35 +0700</pubDate>
<dc:creator>Chunghic</dc:creator>
<media:keywords>thứ tự các giá hầu</media:keywords>
<content:encoded><![CDATA[<p>Hầu Đồng là nét đẹp văn hóa tâm linh Việt, Tuy  nhiên những người mới ra trình đồng mở phủ chưa thể tìm hiểu sâu về vấn đề đạo và lề nối khi ra hầu, Đồng Thầy đôi khi cũng chưa kịp dạy đệ tử hoặc có dạy cũng rất mơ hồ và khó nhớ. Để bạn chủ động hơn trong việc hầu thánh, bài viết này sẽ giúp bạn hình dung ra thứ tự các giá hầu trong đạo mẫu tứ phủ.</p>
<p><img src="https://tuvidonga.com/uploads/images/2024/07/image_750x_669fc454137a0.jpg" alt="" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" width="633" height="380"></p>
<h2>1. Thỉnh Mẫu</h2>
<p>(Không tung khăn)</p>
<p>Đệ Nhất Thiên Tiên con thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên</p>
<p>Thanh Vân Công chúa thượng thiên Mẫu ngự về</p>
<p>Vân Cát thôn quê, Phủ Dày Vân Cát thôn quê</p>
<p>Giáng sinh vào cửa nhà Lê cải Trần</p>
<p>Thánh Mẫu Địa Tiên con thỉnh mời Mẫu Đệ nhị Thánh Thiên</p>
<p>Vốn xưa hiển thánh trong đền Sòng Sơn</p>
<p>Thoải quốc động đình con vua Thoải quốc động đình</p>
<p>Xích Lân long nữ Mẫu ngự đền chứng đây</p>
<p>Thầy nói ngoài lề một chút:</p>
<p>Tục thờ Mẫu Tam Phủ người Việt có từ rất lâu, đại diện Thiên Tiên là Thanh Vân công chúa, đại diện Địa tiên là Mẫu Đệ Nhị, đại diện miền Thoải là mẫu Đệ Tam.</p>
<p>Unessco công nhận tục thờ Mẫu tam phủ của người Việt: Thiên – Địa – Thoải. Đệ nhị địa tiên chứ không phải Đệ nhị Thượng ngàn cũng có lí do:</p>
<ol>
<li><strong>Thiên tiên cửu trùng Thanh Vân Vạn Hoa Vương Mẫu (Khác với Cửu thiên Huyền Nữ và Mẫu Bán Thiên)</strong></li>
</ol>
<p>Mẫu Liễu Hạnh (tương truyền là con Vua Cha Ngọc Hoàng -Tạo hóa giáng sinh, theo sắc phong thì cũng có sắc ghi là “Thiên chủ tiên đình” nhưng có sắc ghi là “Đế thích tiên đình”). Trước giáng sinh tên cũ của Mẫu là Hồng Liên, đạo hiệu là Thanh Vân, giáng sinh cửa nhà Lê cải Trần tên là Giáng Tiên (Trần Lê Giáng Tiên), đạo hiệu là Liễu Hạnh nên được gọi là Liễu Hạnh công chúa hay Thanh Vân công chúa.</p>
<p>Tên Cửu Trùng Thanh Vân còn có ý nghĩa là khi Mẫu Liễu Hạnh về trời ngài ngự ở cửu trùng thiên cung Vân Tiêu nên được gọi là Mẫu Cửu Trùng.</p>
<p>Như vậy thỉnh giá đầu tiên là giá Mẫu thượng thiên /đệ nhất thiên tiên… là Mẫu Liễu Hạnh.</p>
<ol start="2">
<li><strong>Địa Tiên Thánh Mẫu</strong>… quan niệm chung vẫn là Mẫu Liễu Hạnh theo truyền thuyết, ngài hiển thánh cấp cháo cho quân của Vua Quang Trung nhưng nhiều dòng đồng cổ lại hầu Sòng Sơn Thánh Mẫu Vân Hương đệ nhị Thiên Tiên quản địa phủ khâm sai Duy Tiên công chúa.</li>
<li><strong>Mẫu thoải</strong> – tùy căn cơ hoặc nơi ở của các con hoặc là được nhà Thánh ứng báo thờ chính cung vị Thánh Mẫu nào.</li>
</ol>
<p> - Trước đây dòng đồng thoải Việt cổ hoặc dòng đồng khâm sai thờ Hầu Thánh Mẫu Diệc Lân Long Nữ (Bà chúa Lạch).</p>
<p>-  Trước đây dòng đồng thoải từ thời Trần thì thờ và hầu tráng bóng chuyên thờ Thánh Mẫu Xích Lân Long Nữ.</p>
<p>-  Dòng đồng thoải sinh sống ở giáp biển thờ và Hầu Thánh Mẫu Trung Thiên Hoàng Lân Long Nữ (Đông Hải long vương).</p>
<p>-  Dòng đồng thoải cư ở trên núi phía Bắc thờ và hầu Thánh Mẫu Ngọc Lân Long Nữ.</p>
<p>Vậy các con thờ tự cũng điện tư gia hay hầu hạ cũng lưu ý nơi mình sinh sống và ứng báo riêng của nhà Thánh để phụng sự nếu không được ứng báo cứ thờ và hầu vậy cứ lấy tòa thoải trung bây giờ thờ và hầu tráng bóng Thánh Mẫu Xích Lân Long Nữ.</p>
<p>Nói chung quen miệng hay theo Unesco đạo ta vẫn gọi là Mẫu tam phủ còn ta dân gian thì Đạo Mẫu tứ phủ.</p>
<p>Nhưng Thần chủ đứng đầu Đạo Mẫu ta vẫn là Mẫu Phủ Dầy là Đệ Nhất Thiên Tiên Cửu Trùng Thanh Vân Vạn Hoa Vương Liễu Hạnh công chúa Mẫu Nghi Thiên Hạ Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương Mạ Vàng Bồ Tát.</p>
<p>Còn từ xưa các Chúa các Chầu đều gọi là Mẫu cả, gọi Chúa gọi Chầu để dễ nhận biết với ba tòa Mẫu mà thôi.</p>
<p>Do vậy,  các con ta thuộc dòng đồng khâm sai Tiên Hương nếu hầu ở đền thuộc các địa phương như ngoài biển hay trên núi hoặc ở đồng bằng thì nói cung văn thỉnh các tòa Mẫu thoải theo vùng mà tráng bóng cho đúng lối.</p>
<p>Tuy rằng Mẫu thượng ngàn và nhạc phủ không được Unesco công nhận nhưng các con ghi nhớ rằng Mẫu thượng ngàn và nhạc phủ là Mẫu của người Việt ta, của đạo Mẫu tứ phủ. Unesco hay tổ chức nào có công nhận tứ phủ hay không cũng không quan trọng.</p>
<p>Thầy đã từng giảng cho các con về tam phủ, về mầu sắc đỏ xanh trắng vàng của tứ phủ và thiên thanh địa bạch thủy hoàng của cửa Thượng Từ Nhà Trần. Rồi cũng giảng thế nào là tam tứ phủ thế nào là cửa Thượng Từ…</p>
<p>Rồi thầy còn có cả bài riêng giảng về sơn trang và Thanh sơn nhạc phủ.</p>
<p>Nói đến nhạc phủ trước đây có có 4 dòng: 1, Lạng Sơn  - 2, Đông cuông (Yên Bái - Lào Cai – Phú Thọ tạm gọi là dòng Đông Cuông) – 3, Nhất động thanh sơn (Hòa Bình – Ninh Bình- Thanh Hóa ) – 4, Suối Mỡ (Bắc Giang một phần Hải Dương và Quảng Ninh). Còn gọi là 4 dòng sơn trang và một dòng chúa Mán đôi tòa là 5.</p>
<p>Dòng Sơn Trang mỗi nơi có cách thức thờ khác nhau. Đến khi vua Lê Thái Tổ phong La Bình công chúa lên làm Mẫu Thượng Ngàn lấy họ vua phong là Lê Mại Đại Vương Diệu Tín Thuyền Sư cao sơn thần nữ ( hiệu Bạch Anh công chúa…), lúc này thống nhất sơn lâm sơn tinh bộ chúng.</p>
<p>Sau này khi Đức Thánh Mẫu Thần chủ Đại Từ Tôn về Trời, Thánh Mẫu Duy Tiên hợp các dòng thượng ngàn và dậy hầu thứ tự tổng hợp các giá tứ phủ như bây giờ mới gọi chính thức nhạc phủ để gọi chung cho dòng đồng thượng khỏi phân biệt.</p>
<p>Thực ra cũng có vị Thánh Thượng tùy phương cải hiệu chỗ này tích nọ chỗ kia họ khác danh khác… Trước đây theo dòng chỉ được gọi là dòng đồng thượng Sơn Trang hay Thanh Sơn nhất phái hay dòng đồng thờ các Thánh thượng ngàn…</p>
<p>Nhạc phủ sau khi hợp giáo vào tam phủ mới sinh ra Đạo Mẫu Tứ phủ đình Thần.</p>
<p>Trước đây, không bao giờ hầu Mẫu, chỉ hầu các Chúa, các Chầu, các quan lớn, các Hoàng, các cô, các cậu.</p>
<p>Nhưng vì dòng Thanh Sơn là riêng biệt và đã hầu Chúa bà thượng ngàn từ ngày xưa trước khi Bà chúa Thượng Ngàn được phong thành Mẫu thượng ngàn và ghép vào cùng tam phủ thành tứ phủ (Thỉnh mời Lê Mại chúa tiên, vốn xưa chúa ngự trên đền Tuyên Quang).</p>
<p>Sau này khi Mẫu thượng ngàn được sắc phong và quản trưởng sơn lâm sơn trang, ngự tại đền Đông Cuông lời văn mới chuyển thành: Thỉnh mời Lê Mại đại vương, vốn xưa Mẫu ngự trên đền Đông Cuông...).</p>
<p>Lưu ý khi hầu Mẫu thượng ngàn/chúa thượng ngàn - Văn thỉnh:</p>
<p>+ Đối với đồng quan, đồng trưởng, đạo quan: Thỉnh mời Lê Mại chúa Tiên…Tuyên Quang…</p>
<p>+ Đối với đồng tân đồng không thờ điện: có hầu tại nơi thờ sơn trang thì thhỉnh mời chúa bà Cầm Thị Lả (chúa Đông Cuông nội sai Hồng Thánh đại vương phu nhân ).</p>
<p>Cũng như thoải phủ xưa nay chưa ai hầu Thánh Mẫu Xích Lân Long Nữ nhưng Chúa Lạch Diệc Lân Long Nữ (Mẫu Thoải ), chúa Hoàng Lân Long Nữ (Mẫu thoải Đông Hải Long Vương) hay Mẫu Ngọc Lân Long Nữ thì các cụ chuyên dòng đồng thoải thờ chính cung vẫn hầu ba tòa Mẫu này hoặc các cụ chuyên dòng đồng thoải lính kề Thánh hoặc dòng khâm sai đều hầu như các chúa sau Mẫu.</p>
<p>Đến ngày nay chỉ tất cả các giá Mẫu có Mẫu thượng ngàn là được hầu và Chúa Lạch cùng đôi tòa tả tiên phi hay hữu động đình thoải phủ vẫn hầu. Do từ xưa đến nay người theo phái Thanh Sơn hay các cụ đồng thờ chuyên dòng vẫn hầu Mẫu Thượng, Mẫu thoải và Mẫu vẫn cho phép hầu.</p>
<p>Còn Mẫu Thoải (Xích Lân Long Nữ), Mẫu đệ nhất… (Thiên -  Địa - Thoải ) không mở khăn, không hầu.</p>
<p>Về nguyên tắc không hầu 2 giá Mẫu Liễu và Mẫu Thoải. Nhưng bản chất các Mẫu đều có hóa thân:</p>
<p>Hầu Chầu Bơ chính là hầu Mẫu Thoải hóa thân, riêng dòng thoải Thanh Hóa cổ hay dòng khâm sai hầu Đà Long thủy tinh công chúa (là Chầu Bơ). Cũng tùy dòng, có dòng hầu Cô Tư hoặc Cô Nhất là hầu Mẫu Liễu hóa thân, hầu Cô Đôi là hầu Mẫu Thượng Ngàn hóa thân,… cũng có dòng hầu Cô Nhất là Cửu Thiên Huyền Nữ Chân Nhân, và Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ hay Cô Tư Ỷ La hay có dòng hầu Chầu Nhất là Chầu Quỳnh.</p>
<p>Đặc biệt còn vị Mẫu Mẫu Chiêu Lai (Sai Lai hay nội sai bản chất là Thánh Mẫu Đông Cuông theo sắc phong tại đền ): Khi lên đến Bảo Hà mới hầu tráng bóng sau ba tòa Mẫu, đồng non không tung khăn. Sau khi thỉnh 3 tòa Mẫu chính, hầu đến Mẫu Sơn Trang, sẽ có thỉnh và vái vọng thêm Mẫu Chiêu Lai (Thân mẫu của Hoàng Bảy- Hoàng Đôi, ngài là Phu nhân của Ông lớn Bảo Hà Thao giang Hồng Thánh Đại Vương chiếu theo sắc phong bà cũng là Mẫu Đông Cuông.</p>
<p>Và đồng pháp nhà Trần cũng Hầu tráng bóng Thánh Mẫu Thiện Đạo Quốc Mẫu Phu Nhân.</p>
<h2>2. Hầu Chúa</h2>
<p>(Chưa xét trường hợp hầu ghép đàn Nhà Trần)</p>
<p>Sau khi thỉnh/hầu Mẫu như trên,</p>
<p>Thỉnh đến các chúa:</p>
<p>- Có dòng thoải coi hai vị Thánh Mẫu và chầu thoải là chúa, họ hay hầu ở tòa Thoải phủ: Hầu Tả tiên phi Thánh Mẫu Ngoc Lân Long Nữ, kế đến hầu Hữu tiên phi Thánh Mẫu Đà Long thủy tinh công chúa… (Hầu 1 trong 2 vị).</p>
<p>- Nếu hầu ở tòa Sơn Trang (lên đến các đền như Tuần Quán/ …): hầu Hữu tiên chúa Bách Lẫm phu nhân (Bà lớn Tuần Quán) hoặc hầu Tả tiên chúa sơn trang (Bà Đông Cuông) sau đó hầu bà Hữu tiên chúa…</p>
<p>- Nếu hầu tại miền Thanh hóa , hòa bình kiểu thờ như đền Đông Sơn hoặc đồng soi bói được khai tòa định nghiệp soi bói: Nếu có bóng đủ quả được phép hầu Lê Mại Chúa Tiên, rồi hầu đến Diệu Tín Chân Như chúa tiên, sau đến Diệu Nghĩa Thuyền Lâm chúa tiên (Tam vị chúa Mường).</p>
<p>- Nếu hầu tại Tam Giang- Bạch Hạc và kiêm chi đôi nước: Phải có lễ với đức Thổ Lệnh Thạch Khanh (Đức Thánh Sơn Vi Đại Vương chồng Mẫu Đông Cuông), sau đó xin phép và Hầu đức Thánh Chiêu Văn Vương (Trần nhật Duật - nhà Trần), thỉnh hầu Thánh Quách A Xuân Nương sau chúa Đông Cuông.</p>
<p>- Nếu hầu tại Đền Chúa Đá Đen thì hầu Chúa Đá Đen trước (Sau chúa Lê Mại.</p>
<p>- Đến hầu tại Ninh Bình: Nên nhớ tổ bói là chúa bà Đá Nhân, nên thứ tự hầu là:</p>
<p>+ Chúa nhất Đá Nhân – Chùa Sệu (Làng Đái Nhân – Ninh Bình). Lưu ý tòa Thánh Đá Nhân ăn lộc bói của chúa mới được về đó hầu cấm tung khăn bừa khi không có bóng.</p>
<p>+ Chúa đệ nhị Đông Cuông – Đền Đông Cuông (Lê Thị Kiểm)</p>
<p>+ Chúa đệ tam đôi tòa Mán Thổ (bộ chúa mán đôi tòa gộp thờ. Đời mới từ khi ông Côi rước chân nhang chúa Đá Nhân, bà Thanh Hoa và chúa Đông Cuông về thờ và rước chân nhang miếu bà chúa bản cảnh người Ngái trong Cao Bằng về thờ tại động Vân Phong Tĩnh Túc Cao Bằng gọi là chúa tam tổ bói Già Long. Sau này ông còn về Tân Thành Hữu Lũng Lạng Sơn xin chân nhang của bà Chúa Tiên Nữ Cao Sơn. Xin chân nhang của chúa mẹ già Giao Long thác cái...Còn cổ các cụ ta khao sơn trang hay dòng thanh sơn hay hầu chúa mán đôi tòa thì tùy địa phương cải hiệu).</p>
<p>- Nếu lên đền Tĩnh Túc: hầu chúa mán đôi tòa Cao Sơn Tiên Nữ hay chúa giao long thác cái ttrước (hoặc lối mới gọi là chúa Già Long) (Hầu sau chúa Lê Mại).</p>
<p>- Nếu hầu trong điện Hòn Chén - Huế các con có thể hầu tráng bóng mẫu Thiên Y A Na sau tam toa Mẫu và hầu chúa Lá hay bà chúa Động hỏa phong, Bạch Ba Công Chúa Kim Tinh thần nữ… Sau các giá chầu.</p>
<p>- Tỏa bóng vùng Suối Mỡ thỉnh Chúa Bà Sơn Trang Quế Hoa mị nương.</p>
<p>Tỏa bóng vùng tam đảo thì hầu Thanh sơn đại vương</p>
<p>- Đối với các Thánh bản cảnh:  Có thể hầu Thánh bản cảnh trước cả chúa Lê Mại nếu hầu tại chính đền của vị Thánh bản cảnh/ tứ phủ (HẦU ĐÓN KHÁCH)</p>
<p>+ Chúa Tây Thiên: Thứ phi của Vua Hùng – Tên cúng cơm là Lăng Thị Tiêu, ngài mới xuống bóng cho hầu ít năm gần đây. Cơ cánh dòng đồng ta trừ khi hầu tại đền Mẫu Tây Thiên có rước bóng đón khách hoặc nhà Thánh rẽ ngôi đóng đồng cho phép vào bóng…(hầu sau Chúa Đông Cuông -  Chúa tứ phủ hoặc các chầu …) hoặc đồng nhân có duyên được cho phép hầu.</p>
<p>Ví dụ:</p>
<p>+ Chúa Đá Đen</p>
<p>+ Chúa Giao Long</p>
<p>+ Chúa Ỷ la (Mẫu Ỷ La)</p>
<p>+ Chúa Đồng Tiền</p>
<p>+ Chúa bà Phấn Trì</p>
<p>+ Chúa bà Lâm Thao (Chúa Ót)</p>
<p>+ Chúa Nguyệt Hồ (Tòa chúa mới thờ gần đây - Ngài là vợ ba Ông đề thám -  là một vị Thánh vì dân vì nước có thể hầu khi bà cho ăn lộc).</p>
<p>+ Chúa bà Cà Phê (Cũng phải có bóng mới được tung khăn)</p>
<p>+ Chúa Năm Phương (Con nhang người hải phòng nên hầu)</p>
<p>+ Chúa ngũ phương (Đồng kiêm chi mới được hầu mà chỉ được phép hầu khi ở đền sinh đền hoá kiếp bạc khi có bóng)</p>
<p>Còn về nguyên tắc: Thánh bản cảnh hầu sau Thánh Tứ Phủ (có thể sau giá chầu).</p>
<h2>3. Hầu Quan, Chầu, Hoàng, Cô</h2>
<p>Sau các giá Chúa</p>
<p><strong>- Hầu các Quan:</strong></p>
<p>Trước đây dòng đồng Tiên Hương cơ cánh nhà ta các cụ vẫn hầu quan khâm sai thứ hai sau quan lớn đệ nhất (dòng đồng khâm sai) trước cả quan giám sát với quan Tam. Bây giờ tất cả đều hầu sau Quan Tam, việc này nhà Thánh cho phép nên dòng đồng ta cũng có thể hầu như vậy cho thuận thời thế.</p>
<p>(Riêng về khu vực Thanh hóa hầu thêm Quan lớn Triệu Tường, về đồng bằng hoặc tháng 8 hầu Quan Điều Thất).</p>
<p><strong>- Hầu các Chầu:</strong></p>
<p>Có thờ điện hầu Chầu Nhất và Chầu Tứ và chầu bà tổ cô theo các giá thứ tự văn thỉnh.</p>
<p>Nếu không có điện sau 3 năm được phép hầu Chầu Tứ, sau 12 năm hầu Chầu Nhất (Rước bóng ở Phủ Dày hoặc nơi thờ chính cung Chầu Tứ thì không xét mốc thời gian trên).</p>
<p>Riêng về Phủ dầy (Phủ chính Tiên Hương) hầu Thỉnh Chầu Quế có bóng đóng đồng thì Hầu.</p>
<p>Đền thờ thoải hầu Chầu Bé thoải phủ thủ đền sau Chầu Bé Bắc Lệ,</p>
<p><strong>- Hầu các Hoàng:</strong></p>
<p>Riêng Hoàng Bát Nùng Cao Bằng và Hoàng Bắc Quốc có thể đồng hầu – cùng hầu trong 1 vấn. Hầu tại Suối mỡ Hầu ông Hoàng Cả, hầu tại đền Bảo Hà phải hầu Hoàng Đôi, hầu tại đền Tuần Quán hầu Hoàng Lục, hầu tại đền Đông Cuông hầu Hoàng Báo.</p>
<p>Trong 1 canh hầu không được phép hầu quá 4 hoàng</p>
<p><strong>- Hầu các Cô:</strong></p>
<p>Ghi nhớ: 12 Thánh cô khác 12 cô sơn trang – và các cô bản cảnh</p>
<p>Thứ tự hầu cô:</p>
<p>Cô đệ nhất à Cô đệ nhị (cô đôi) ……à Cô bé</p>
<p>Lưu ý khi hầu cô bé:</p>
<p>+ Nếu hầu ở mạn Đông Cuông: Chỉ được phép hầu cô bé Đông Cuông</p>
<p>+ Nếu hầu ở Lạng Sơn: Hầu cô bé Suối Ngang cô bé bắc lệ</p>
<p>+ Nếu hầu ở Tuyên Quang: Hầu thêm cô bé Minh Lương</p>
<p>+ Nếu hầu ở Móc Giằng: Hầu cô bé Móc Giằng mỏ than tùy đền…… hầu các cô chính tòa chính động.</p>
<ul>
<li>Thứ tự nếu thỉnh hầu nhiều cô bé:</li>
</ul>
<p>Cô Đông Cuông  - Cô Suối Ngang -  Cô Minh Lương - Cô Móc Giằng - Cô Bé Thoải Cung/ Cô Bé Sơn Trang (cô 12) ít mở khăn - Thánh cô Thác Bờ /Thánh cô Tân An... (Bản cảnh).</p>
<p>Ai buôn bán vải vóc quần áo có thể xin lộc hầu đôi cô Cam Đường.</p>
<p>+ Nếu hầu ở tòa Thoải: Cô Đông cuông - Cô bé thoải cung - các cô khác</p>
<p>- Hầu các Cậu: Theo hát văn thỉnh.</p>
<p>Khi hầu ở Suối Mỡ thì hầu Cậu Cả, Cậu Lệch.</p>
<p>Nếu bắc ghế vào ngày tiệc các Thánh thì không được bỏ hầu giá Thánh chính tiệc.</p>
<p><strong>LƯU Ý:</strong></p>
<p>- Nguyên tắc: Hầu Thánh bản cảnh sau Thánh Tứ phủ</p>
<p>+ Dòng đồng Tiên Hương chưa cho phép hầu Chúa Tây Thiên hầu vui tại nơi không phải đền chính của ngài. Sau 3 năm nếu có ân duyên xin phép được hầu thì hầu Chúa Tây Thiên sau Chúa Đông Cuông/ sau 3 tòa Chúa Mường lưu ý không có bóng Thánh đóng đồng không được tung khăn giá này…</p>
<p>+ Khi về Phủ Dày, hầu 1 vị nữa sau Chúa Đông Cuông là Bà Quảng Cung. Tuy nhiên xét theo căn cơ chứ không phải ai cũng được hầu ngài.</p>
<p>+ Về tòa Thoải: Nếu hầu chúa Tây Thiên thì hầu sau các tòa thoải.</p>
<p>Nếu con nhang dòng đồng Tiên Hương bản hội ta khi đã làm thủ nhang tại đền công thì hầu theo tòa thờ vào ngày tiệp mừng hồng ân nhưng trong canh hầu buộc phải hầu ba quan: Quan Nhất - Quan Tam và Quan Ngũ, còn các giá khác tùy đền và dòng thờ cũng như tòa chính thờ.</p>
<p>- Bắc ghế bao giờ cũng hầu Cậu Bé bản đền tiễn đàn.</p>
<p>- Chầu Bà tổ cô, ông Thánh tổ họ hay ông mãnh hoàng thủy tổ nếu muốn thỉnh thì xin văn thỉnh tráng bóng nếu là tân đồng. Sau 3 năm tùy hỷ tung khăn hầu kết đàn. Trường hợp đồng nhân có điện thờ Thánh truyền thừa thì được phép hầu ngay từ khóa mở phủ.</p>
<p>- Dòng đồng ta không hầu quan tướng (hạ ban) trừ khi con đồng phó úy sổ lính hạ ban quan tướng nhưng nếu bái hương tiễn Thánh vẫn là tốt nhất.</p>
<h2>4. Hầu đồng Nhà Trần, Thánh bản cảnh nhà Trần.</h2>
<p>- Bắc ghế hầu nhà Trần làm việc chỉ hầu 1 giá.</p>
<p>- Khi hầu luyện đồng hay tiến cống mã man hay hội đồng Thượng từ loan giá, hầu bao nhiêu giá có bóng thì hầu. Thứ tự hầu:</p>
<p>+ Hầu Đức Thánh Hưng Đạo bái hương tráng bóng (Đồng nam sau 12 năm đội lệnh Nhà Trần thì được hầu).</p>
<p>+ Đức Thánh Cả</p>
<p>+ Đức Thánh Phó</p>
<p>+ Đức Thánh Đệ Tam</p>
<p>+ Đức Thánh Hưng Trí</p>
<p>+ Vương cô Đệ Nhất</p>
<p>+ Đức Thánh Phạm</p>
<p>+ Vương cô Đệ Nhị</p>
<p>+ Lục bộ Thánh ông:</p>
<p>Ông Yết Kiêu - Ông Dã Tượng - Ông An Nghĩa đại vương - Ông Cao Mang…</p>
<p>+ Hai vị thầy văn võ</p>
<p>- Nếu hầu ở đền Nam Tào Bắc Đẩu thì hầu Đức Thánh Ông - Hai vị Thánh Nam Tào Bắc Đẩu rồi mới đến các giá tiếp theo</p>
<p>- Nếu hầu ở đền Sinh đền Hóa: Hầu đến 4 vị vương tử - Hai vị thánh cô - Phạm Điện Súy - Chúa ngũ phương ngũ hành…</p>
<p>- Nếu vì điều kiện phải hầu kẹp đàn tứ phủ và nhà Trần cùng canh thì hầu cửa Thượng Từ sau 3 tòa Mẫu.</p>
<p>- cô cửa suốt cậu cửa đông</p>
<p>Các con cũng biết đồng dòng nào theo dòng đó, địa phương nào hầu kiểu địa phương đó, “giỏ nhà ai thì quai nhà đó” như Hải Phòng thì các cụ hầu ngược; Hà Nội, Ninh Bình hầu xuôi Có nơi hầu Thánh bà trước có nơi hầu các quan trước nhưng dòng ta thì không được hầu sai phép tắc thứ tự như trên.</p>]]> </content:encoded>
</item>

</channel>
</rss>